SKKN Tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy chương III gia công cơ khí của môn Công nghệ 8

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, môn Công nghệ lớp 8 trang bị cho học sinh một số kiến thức cơ bản về Vẽ kĩ thuật, Cơ khí, Kĩ thuật điện.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI  
MÃ SKKN  
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM  
TÍCH HỢP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
VÀO GIẢNG DẠY CHƯƠNG III GIA CÔNG  
CƠ KHÍ CỦA MÔN CÔNG NGHỆ 8  
Lĩnh vực: Công nghệ  
Cấp học: Trung học cơ sở  
Năm học 2016-2017  
PHỤ LỤC  
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................23  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI  
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, môn Công  
nghệ lớp 8 trang bị cho học sinh một số kiến thức cơ bản về Vẽ kĩ thuật, Cơ khí,  
Kĩ thuật điện. Trên tinh thần giáo dục tổng hợp và hướng nghiệp, với xu thế tiếp  
cận và liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp gắn liền với  
cuộc sống lao động sản xuất của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi địa phương cũng  
như trên cả nước.  
Trong đó, ngành cơ khí luôn là một trong những ngành then chốt đối  
với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như trên toàn thế giới.  
Những năm đầu của thế kỷ XXI, nhân loại được chứng kiến nhiều biến  
đổi sâu rộng lớn của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách  
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, mà đặc trưng là các ngành công nghệ  
cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới -  
công nghệ nano, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không và vũ trụ  
đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị quốc  
tế, làm thay đổi diện mạo thế giới đương đại. Trong sự phát triển vĩ đại đó,  
ngành công nghiệp cơ khí chế tạo đóng vai trò có tính nền tảng và có sự hiện  
diện hầu như trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của cộng đồng quốc tế.  
Chính vì vậy, xu hướng phát triển khoa học và công nghệ cơ khí chế tạo vẫn  
được chú trọng .  
Cùng với sự gia tăng của công nghệ hiện đại, máy móc, thiết bị trong  
đời sống của mỗi gia đình cũng như trong từng doanh nghiệp sản xuất, vai trò  
của nhóm ngành cơ khí theo đó cũng ngày càng trở nên quan trọng hơn  
Ngày 11 tháng 4 năm 2014, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, Bộ Công  
Thương đã tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển  
ngành Cơ khí Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tham dự  
và chủ trì Hội nghị. Thực hiện Chiến lược này, trong hơn 10 năm qua, ngành  
Cơ khí Việt Nam đã có những thay đổi và phát triển, từng bước hội nhập với  
   
ngành Cơ khí thế giới. Các lĩnh vực như: Sản xuất, lắp ráp ô tô; sản xuất xe  
máy; chế tạo thiết bị cơ khí thủy công; chế tạo thiết bị cho các nhà máy nhiệt  
điện; công nghiệp hỗ trợ... đều có những bước phát triển và đạt kết quả tích  
cực. Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp của ngành đạt 227.911 tỷ đồng  
(tăng 6 lần so với giá trị sản xuất công nghiệp ngành cơ khí đạt được năm  
2000); năm 2013, ước đạt 251.185 tỷ đồng. Về xuất nhập khẩu, năm 2012, giá  
trị xuất khẩu cơ khí đạt 12,1 tỷ USD; năm 2013 đạt 13,18 tỷ USD. Đến nay,  
hệ thống chính sách để phát triển ngành Cơ khí đã được ban hành tương đối  
đầy đủ. Nhìn lại 10 năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả  
trong phát triển ngành cơ khí. Giá trị của cơ khí chế tạo, xuất khẩu liên tục  
tăng; sức cạnh tranh của các sản phẩm cơ khí ở thị trường trong nước và thị  
trường xuất khẩu không ngừng được nâng lên.  
Bộ giáo dục đã đưa phần Cơ khí vào giảng dạy trong môn Công nghệ ở  
trường Trung học cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Trung học  
cơ sở về quy mô, chất lượng, hiệu quả phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,  
hiện đại hoá đất nước, có tiềm lực để không ngừng hoàn thiện trình độ đào tạo  
ban đầu, vươn lên đáp ứng những yêu cầu mới. Nhằm hình thành sớm ở học  
sinh những kĩ năng cơ bản của ngành cơ khí và giúp các em có thêm định  
hướng cho nghề nghiệp sau này.  
Thế nhưng nội dung phần cơ khí trong sách giáo khoa Công nghệ 8 còn  
khô khan và còn nặng về lí thuyết, thiếu thực hành và kiến thức học chưa  
mang lại niềm hứng thú cho học sinh. Bên cạnh đó trang thiết bị giảng dạy  
của nhiều trường còn lạc hậu, thiếu thốn, không có phòng thực hành riêng cho  
học sinh. Đặc biệt nội dung phần gia công cơ khí thì còn khô khan, nhàm  
chán và xa rời thực tế vì học sinh không được tiếp xúc cũng như thực hành.  
Mà đi song song với sự phát triển của ngành cơ khí thì vấn đề ô nhiễm  
môi trường cũng là vẫn đề nan giải và cần định hướng và giáo dục cho học  
sinh càng sớm càng tốt.  
Hiện nay kim loại ở dạng phế liệu, phế thải trong nước ta còn hàng  
chục vạn tấn nằm rải rác ở khắp các địa phương. Kim loại màu gồm các loại  
đồng, chì, nhôm... ở trong động cơ điện, biến thế điện, các chi tiết xe, máy,  
tàu thuyền nhẹ, bình ắc quy hỏng, vỏ đạn các loại, xác máy bay. Kim loại đen  
ở các loại máy, các loại pháo, xe tăng, tàu, thuyền, cầu cống hư nát, trong đó  
có một khối lượng lớn thép không rỉ, hợp kim có độ bền vật liệu cao,v.v...  
Các nhà máy sản xuất thép đang ngày đêm thải ra môi trường một  
lượng chất thải, phế thải lớn. Các chuyên gia môi trường nhận định, nếu tất cả  
các dự án thép được cấp phép và triển khai đúng cam kết thì đến năm 2020,  
ngành thép sẽ thải ra 174 triệu tấn CO2 và lúc đó, riêng ngành thép sẽ “giáng”  
lên đầu mỗi người dân Việt Nam thêm 1,5 tấn khí CO2”. Theo tính toán, sản  
xuất 1 tấn thép sẽ thải ra từ 0,5-1 tấn xỉ, 10.000m3 khí thải, 100kg bụi. Rất  
nhiều các chất ô nhiễm như: axit, kiềm, các nguyên tố hợp kim... thải ra môi  
trường. Trong các vùng luyện kim, khí quyển bị nhiễm bẩn chiếm tỷ lệ gần  
60%. Ngoài nguyên liệu chính là thép phế, sắt xốp, gang thỏi hoặc gang lỏng,  
vôi, việc sản xuất thép còn sử dụng năng lượng như than, gas, điện, dầu, oxy,  
nước và các chất phụ trợ như hợp kim, điện cực, khí trơ, vật liệu đầm lò. Quá  
trình sản xuất thép sinh ra các chất thải khí, rắn và tiếng ồn. Trong một số  
trường hợp, nước làm mát không được tuần hoàn tuyệt đối cũng phát thải ra  
môi trường.  
Các kim loại nặng như Pb, Hg, Cr, Cd, As, Mn,... thường có trong nước  
thải công nghiệp. Hầu hết các kim loại nặng đều có độc tính cao đối với con  
người và các động vật khác. Chì (Pb): chì có trong nước thải của các cơ sở  
sản xuất pin, acqui, luyện kim, hóa dầu. Chì có khả năng tích lũy trong cơ thể,  
gây độc thần kinh, gây chết nếu bị nhiễm độc nặng. Chì cũng rất độc đối với  
động vật thủy sinh. Các hợp chất chì hữu cơ độc gấp 10 – 100 lần so với chì  
vô cơ đối với các loại cá. Thủy ngân (Hg): thủy ngân là kim loại được sử  
dụng trong nông nghiệp (thuốc chống nấm) và trong công nghiệp (làm điện  
cực). Trong tự nhiên, thủy ngân được đưa vào môi trường từ nguồn khí núi  
lửa. Ở các vùng có mỏ thủy ngân, nồng độ thủy ngân trong nước khá cao.  
Nhiều loại nước thải công nghiệp có chứa thủy ngân ở dạng muối vô cơ của  
Hg(I), Hg(II) hoặc các hợp chất hữu cơ chứa thủy ngân. Thủy ngân là kim  
loại nặng rất độc đối với con người. Vào thập niên 50, 60, ô nhiễm thủy ngân  
hữu cơ ở vịnh Minamata, Nhật Bản, đã gây tích lũy Hg trong hải sản. Hơn  
1000 người đã chết do bị nhiễm độc thủy ngân sau khi ăn các loại hải sản  
đánh bắt trong vịnh này. Asen (As): asen trong các nguồn nước có thể do các  
nguồn gây ô nhiễm tự nhiên (các loại khoáng chứa asen) hoặc nguồn nhân tạo  
(luyện kim, khai khoáng...). Asen thường có mặt trong nước dưới dạng asenit  
(AsO33-), asenat (AsO43-) hoặc asen hữu cơ (các hợp chất loại methyl asen  
có trong môi trường do các phản ứng chuyển hóa sinh học asen vô cơ). Asen  
và các hợp chất của nó là các chất độc mạnh (cho người, các động vật khác và  
vi sinh vật), nó có khả năng tích lũy trong cơ thể và gây ung thư. Độc tính của  
các dạng hợp chất asen: As(III) > As(V) > Asen hữu cơ.  
Nếu thu hồi, phân loại, chế biến tốt các phế thải từ ngành cơ khí sẽ tạo  
ra một khối lượng hàng hoá khá lớn phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nhân  
dân. Ngoài ra, có thể thu được hàng chục vạn tấn nguyên liệu cho ngành  
luyện kim; tạo điều kiện cho hàng vạn lao động có công ăn việc làm và có thể  
xuất khẩu được hàng chục triệu đô-la.  
Theo Sở Công Thương Hà Nội, để xử lý ô nhiễm môi trường các làng  
nghề, thành phố Hà Nội cần một khoản kinh phí 1.350 tỷ đồng. Cụ thể, giai  
đoạn từ nay đến năm 2020, thành phố cần 750 tỷ đồng triển khai xây dựng hệ  
thống xử lý môi trường tại 50 làng nghề trọng điểm… Giai đoạn 2021 - 2030  
cần 600 tỷ đồng triển khai xây dựng hệ thống xử lý môi trường tại 30 làng  
nghề khác.  
Từ những thành quả mà ngành cơ khí đạt được và lợi ích của nó mang  
đến cho con người đồng thời góp phần xây dựng nền kinh tế cho nước nhà.  
Và những hậu quả của quá trình sản xuất cơ khí đưa đến cho con người và  
môi trường. Tôi càng mong muốn đưa giáo dục môi trường vào những bài  
giảng môn Công nghệ nói chung và nội dung phần gia công cơ khí nói riêng.  
Nên tôi lựa chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục môi trường vào giảng dạy  
Chương III Gia công cơ khí của môn Công nghệ 8”.  
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU  
Đề tài muốn khẳng việc giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung  
học cơ sở là cần thiết. Giáo dục môi trường vào giảng dạy Chương III Gia  
công cơ khí của môn Công nghệ 8 chính là hành trang cho các em học sinh  
bảo vệ cho mình và người thân, bảo vệ lá phổi xanh của trái đất.  
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
- Giáo dục môi trường cho học sinh Trung học cơ sở thông qua những bài  
học của chương III Gia công cơ khí môn Công nghệ 8.  
- Đối tượng học sinh trường Trung học cơ sở A  
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU  
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.  
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.  
- Phương pháp thống kê.  
- Phương pháp đàm thoại.  
- Phương pháp vấn đáp gợi mở.  
5. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU  
5.1. Phạm vi nghiên cứu:  
- Học sinh khối 8 trường Trung học cơ sở A.  
5.2. Kế hoạch nghiên cứu:  
- Rút kinh nghiệm những năm giảng dạy môn Công nghệ 8 nói chung và  
chương III Gia công cơ khí nói riêng. Và dựa vào xu thế phát triển của kinh tế  
- xã hội trong nước và thế giới.  
- Dựa vào sự hứng thú và yêu thích của học sinh đối với môn học và từng bài  
học cụ thể.  
- Tìm tòi thêm kiến thức, học hỏi bạn bè đồng nghiệp.  
- Lồng ghép giáo dục môi trường vào từng bài học phù hợp của chương III  
Gia công cơ khí.  
           
- Tổng hợp kiến thức, kĩ năng làm phong phú thêm bài học, nâng cao chất  
lượng giảng dạy, tăng cường sự hứng thú, yêu thích môn học cho học sinh.  
II. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI HOẶC CẢI TIẾN  
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ  
Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa  
đất nước. Ngành cơ khí đã và đang đóng góp mạnh mẽ vào sự phát triển của  
đất nước. Nhưng thực trạng sản xuất cơ khí ở Việt Nam còn nhỏ lẻ, tự phát.  
Tập trung ở các làng nghề khu công nghệp nhỏ. Các làng nghề chủ yếu là sản  
xuất thủ công, với thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, lực lượng lao động chủ yếu  
làm việc theo kinh nghiệm "cha truyền con nối". Khu vực làng nghề nằm xen  
kẽ với các khu dân cư. Hầu hết các làng nghề đều chưa có quy hoạch, kế  
hoạch đầu tư, quản lý, xử lý các nguồn thải về lâu dài cũng như trước mắt.  
Theo điều tra của cơ quan chức năng, gần 50% số làng nghề thải ra  
môi trường các chất thải dạng ô nhiễm điển hình; trong đó có nước thải chưa  
qua xử lý, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người dân. Ý thức bảo  
vệ môi trường của các hộ, các cơ sở sản xuất tại các làng nghề còn yếu nên  
tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng. Ở nhiều làng nghề tình trạng ô nhiễm  
được đánh giá là hết sức nghiêm trọng, điển hình là các làng nghề cơ khí đúc  
Vân Chàng, Đồng Côi (Nam Trực). Nhiều làng nghề sử dụng lượng lớn các  
hoá chất như axít, sút, dung dịch mạ, dung môi hữu cơ, sơn màu (HCL,  
Andehyt, Axeton, Phenol, Xyclohecxan)... rất độc hại đối với môi trường, ảnh  
hưởng đến sức khoẻ con người và gây viêm đường hô hấp, dị ứng, bệnh ngoài  
da bệnh phụ khoa. Ô nhiễm môi trường đang đe dọa sức khoẻ người dân, dù  
địa phương đã có dự án đẩy khí thải lên cao và dồn nước thải nguy hại vào  
hồ sinh học. Làng nghề chuyên sản xuất hàng cơ khí, đúc, mạ tẩy - mỗi tháng  
sử dụng khoảng 300 tấn than và 112,5 tấn hoá chất các lại như axít, sút, Cr  
CaC2.Theo điều tra của ngành y tế, tuổi thọ trung bình của người dân không  
vượt quá 55. Làng nghề tái chế nhựa có gần 600 lao động tham gia làm nghề.  
Hiện, làng nghề này vẫn chưa có bể chứa, chôn lấp chất thải rắn, trong khi ô  
nhiễm nguồn nước đang ở mức báo động. Các hộ và cơ sở sản xuất sử dụng  
bình quân mỗi tháng 140 tấn dầu, gần 100 kg hoá chất các loại. Hoặc làng  
nghề chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, dù đã có bể chứa chất thải tập  
trung, nhưng kết quả phân tích cho thấy môi trường nơi đây đang ô nhiễm  
   
nghiêm trọng, với các thông số COD, BOD5, tổng N (T-N) đều vượt tiêu  
chuẩn cho phép từ 1,15 đến 2,6 lần, trong khi các mẫu P (T-P) vượt từ 9-11,9  
lần, thông số NH3 vượt từ 1,29 đến 7,1 lần. Tại nhiều làng nghề khác, dù  
được quan tâm đầu tư xử lý nước thải, song ô nhiễm vẫn ở mức lo ngại, do  
các làng nghề sử dụng nhiều than và hóa chất độc hại. Tại làng nghề chuyên  
sản xuất hàng sơn mài, đồ thờ, mây tre đan xuất khẩu có gần 70% số hộ tham  
gia làm nghề. Hệ thống cống thu gom nước thải và thoát nước cơ bản đã  
được đầu tư nhưng chưa thực sự đảm bảo, môi trường vẫn đang là vấn đề nổi  
cộm. Tỷ lệ người dân mắc các bệnh về phổi, ngoài da, bệnh tiêu hóa, bệnh  
mắt tăng cao.  
Các em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường tương lai là chủ nhân  
của đất nước. Chúng ta mong muốn một xã hội tốt đẹp hơn, một nước Việt  
Nam xanh, sạch, đẹp hơn. Thì ngay từ khi các em còn nhỏ ý thức bảo vệ môi  
trường trở thành tác phong sống, phóng cách sống của mỗi em học sinh.  
Muốn vậy thì mỗi bài học của các em giáo viên lồng ghép những kiến thức  
môi trường phù hợp dần dần sẽ hình thành ở các em những nếp sống tốt tích  
cực với môi trường. Sau này các em trưởng thành tham gia vào hoạt động sản  
xuất. Những tình trạng ô nhiễm môi trường đang tồn tại sẽ được chính các em  
tìm cách khắc phục.  
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ  
Môn Công nghệ theo khái niệm của học sinh là môn phụ nên học sinh  
không chú ý nhiều và đầu tư cho môn học. Khi tôi bắt đầu vào nghề thì tôi thực  
sự buồn vì học sinh không chú ý và có thái độ khinh thường khi học môn Công  
nghệ. Bài vở học sinh còn không ghi chép đầy đủ và khi học không mấy hứng  
thú. Tôi rất muốn thay đối suy nghĩ và cách học của học sinh. Muốn vậy thì  
mỗi tiết dạy của tôi đều được đầu tư kĩ lưỡng và mỗi năm tôi lại bổ sung thêm  
những kiến thức mới cập nhập theo sự phát triển của đất nước và thế giới. Quan  
trọng nhất những kiến thức khi đưa ra phải gần gũi với học sinh, kích thích học  
sinh tìm tòi thêm tri thức mới.  
Đặc biệt môn Công nghệ có nhiều bài học còn khô khan và nội dung học  
sinh chưa được làm quen trong cuộc sống. Nên mỗi bài học cần đưa nội dung  
đến với học sinh một cách đơn giản nhất, dễ hiểu nhất. Với nhưng bài học đó  
nếu giáo viên đưa ra những hình ảnh minh họa hay đoạn video thì học sinh dễ  
dàng hiểu kiến thức mới nhanh hơn. Và có một cách cũng rất hiệu quả đó là  
 
Tích hợp giáo dục môi trường vào những bài học phù hợp thì hiệu quả giáo  
dục sẽ tăng lên rất nhiều.  
Chương III Gia công cơ khí là một chương học sinh ít hứng thú nhất  
trong chương trình học của môn Công nghệ 8. Các bài trong chương này xa  
vời với các em học sinh. Mà điều kiện để các em đi thăm quan thực tế các nhà  
máy sản xuất thì chưa thực hiện được. Các em không được tiếp xúc hay quan  
sát nhiều đến các đồ dùng sử dụng trong ngành cơ khí hay được thao tác làm  
việc trên các máy công cụ này. Các em chỉ học những lý thuyết trống rỗng  
nên gây nhàm chán rất nhanh.  
Trường học chưa có phòng học thực hành riêng cho môn học nên việc  
chuẩn bị và giảng dạy của giáo viên gặp khó khăn hơn.  
Ở trường học các bộ môn cũng đã chú trọng đến vấn đề giáo dục môi  
trường vào giảng dạy. Đó là điều kiện thuận lợi vì học sinh đã rèn luyện kĩ  
năng học tập tìm tòi và áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn.  
Sau 3 năm làm việc tuy chưa phải là dài nhưng tôi đã đúc kết thêm được  
nhiều kinh nghiệm để đưa những bài học gây hứng thú cho học sinh. Nhưng  
hằng ngày tôi vẫn chứng kiến những học sinh của mình còn xả rác bừa bãi,  
những khu tập thể, đường phố, dòng sông… vẫn phải chịu sự vô trách nhiệm  
của con người. Nó thôi thúc tôi không ngừng để đưa những bài học về môi  
trường vào mỗi tiết học.  
Không phải bài học nào cũng tích hợp được giáo dục môi trường vào  
giảng dạy. Tích hợp vào bài nào, phần nào là cả nghệ thuật và sự khéo léo  
tinh tế của giáo viên. Có những bài chúng ta đưa hình ảnh, có bài đưa doạn  
video hay đơn giản chỉ là những câu chuyện nhỏ của giáo viên cũng mang đến  
hiệu quả rất lớn.  
Trường tôi có 5 lớp 8, mỗi lớp có đặc thù riêng và khả năng tiếp thu  
cũng khác nhau. Nên khi áp dụng vào từng bài tôi cũng phải chú ý đến từng  
lớp từng đối tượng cụ thể. Trong các lớp tôi dạy có 2 lớp là lớp 8A2 và 8A4  
các em học sinh rất tích cực và nhanh nhẹn khi tham gia học tập. Mỗi khi tôi  
áp dụng biện pháp mới ở hai lớp này đều nhận được sự hợp tác và hứng thú  
của học sinh. Còn các lớp còn lại tôi cần phải dạy chậm lại và đưa biện pháp  
mới học sinh tiếp thu chậm hơn. Hiệu quả sau mỗi tiết dạy cũng ít hơn. Vì có  
khi các em nghe đó xây dựng bài đó nhưng hành động của các em thì vẫn  
chưa đúng. Tôi lại phải tìm những phương pháp và kiến thức bổ sung phù hợp  
cho từng lớp cụ thể để mỗi giờ lên lớp học sinh hứng thú học tập và ham  
muốn tìm tòi thêm kiến thức. Và những nội dung tích hợp giáo dục môi  
trường của tôi mang đến cho học sinh những bài học hay bổ ích, nâng cao ý  
thức bảo vệ môi trường cho mỗi học sinh. Các em sẽ mang kiến thức học  
được về tuyên truyền và nhắc nhở những người thân và bạn bè của mình.  
3. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ ĐƯỢC TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN  
ĐỀ.  
Chương III Gia công cơ khí gồm 6 bài học trong 4 tiết. Mỗi bài đưa  
đến cho học sinh nhưng nội dung khác nhau và phong phú.  
Theo “Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học môn công nghệ, cấp  
trung học cơ sở của Bộ giáo dục và đào tạo”  
Bài 19: Thực hành vật liệu cơ khí không dạy. Khi dạy bài, mục 1, 2 giáo viên  
lấy ví dụ các vật liệu kim loại, vật liệu phi kim loại minh họa.  
Bài 20: Dụng cụ cơ khí không dạy b)thước cặp  
Bài 21 + 22: Cưa và đục kim loại. Dũa và khoan kim loại không dạy phần II  
bài 21+22 ghép nội dung phần I bài 21+22 dạy trong một tiết  
Bài 23: Thực hành đo và vạch dấu không bắt buộc nhưng nhóm giáo viên  
giảng dạy môn công nghệ thấy sự cần thiết của bài học nên thống nhất vẫn  
đưa nội dung bài học vào giảng dạy và rèn kĩ năng cơ bản của gia công cơ khí  
cho học sinh.  
Áp dụng cụ thể vào một số bài  
Bài 18: Vật liệu cơ khí  
Bài với nội dung kiến thức nhiều một tiết học 45 phút đã khó khăn để  
học sinh tìm hiểu hết các nội dung. Tôi đã tích hợp giáo dục bảo vệ môi  
trường cho học sinh ở phần 2) Vật liệu phi kim loại. Vì thời gian ngắn nên  
hình ảnh đưa ra cũng phải được chắt lọc kĩ càng để mang lại hiệu quả cao.  
Do đó tôi đã chọn hình ảnh sau:  
 

Tải về để xem bản đầy đủ

doc 26 trang minhvan 11/05/2025 5300
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy chương III gia công cơ khí của môn Công nghệ 8", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_tich_hop_bao_ve_moi_truong_vao_giang_day_chuong_iii_gia.doc