SKKN Phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, thực trạng và giải pháp

Nguồn nhân lực là một trong những thành tố quan trọng trong tiến trình phát triển của một địa phương, một quốc gia; trong đó cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động là vấn đề then chốt, quyết định đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và đảm bảo an sinh xã hội.
PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TỐT NGHIỆP THCS TRÊN  
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  
Trương Minh Vũ - Giám đốc  
Nguồn nhân lực là một trong những thành tố quan trọng trong tiến trình  
phát triển của một địa phương, một quốc gia; trong đó cơ cấu nguồn nhân lực  
phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động là vấn đề then chốt, quyết định đến  
năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và đảm bảo an sinh xã hội. Vì vậy, từ  
nhiều năm nay việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS luôn là vấn đề  
được bàn luận, tranh luận được đưa vào nhiều nghị quyết với những giải pháp,  
kiến nghị mang tính khoa học cao. Trong những năm qua trên địa bàn tỉnh  
Quảng Trị với sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự vào cuộc của  
các Sở ngành và địa phương, công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS  
có dấu hiệu chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trên thực tế việc phân luồng học  
sinh sau tốt nghiệp THCS vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, chưa đạt được  
mục tiêu, nếu không có những giải pháp đột phá và thực hiện quyết liệt thì có  
thể thất bại.  
Phân luồng học sinh sau THCS là định hướng phân bổ tỷ lệ học sinh sau  
khi tốt nghiệp THCS hướng đi vào các luồng để tiếp tục học tập theo các  
chương trình giáo dục khác nhau hoặc tham gia vào thị trường lao động, tùy  
thuộc vào năng lực, sở trường, nguyện vọng của bản thân học sinh và điều kiện  
thực tế, nhu cầu nhân lực của xã hội.  
Phân luồng học sinh sau THCS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với  
mỗi cá nhân và toàn xã hội, nó góp phần cung ứng nguồn nhân lực với cơ cấu  
phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế, tạo cơ hội được học tập suốt đời cho mọi  
người, hướng tơí xây dựng xã hội học tập.  
Phân luồng sau THCS nhằm định hướng cho học sinh lựa chọn hướng đi:  
1) Phù hợp với năng lực, sở trường, nguyện vọng, hoàn cảnh và đặc điểm  
tâm sinh lý của bản thân học sinh, tạo cơ hội cho họ tiếp tục học tập có hiệu quả;  
2) Phù hợp với yêu cầu nhân lực của xã hội, của nền kinh tế; góp phần  
điều chỉnh cơ cấu trình độ và ngành nghề đào tạo nhân lực, đáp ứng nhu cầu  
chuyển dịch cơ cấu nhân lực, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối  
cảnh hội nhập quốc tế là một nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới giáo dục qua mọi  
thời kỳ;  
3) Tạo điều kiện cho người học dễ dàng chuyển đổi giữa các chương trình  
giáo dục, học thường xuyên, học suốt đời, góp phần từng bước xây dựng xã hội  
học tập. Phân luồng học sinh sau THCS rất có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân và  
toàn xã hội. Vì vậy, vấn đề này đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng,  
Nhà nước, được ngành GD&ĐT và toàn xã hội quan tâm.  
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khoá VIII) về định hướng chiến lược  
phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và  
nhiệm vụ đến năm 2000 đã xác định GD&ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của  
Nhà nước và của toàn dân; mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời;  
đa dạng hoá các loại hình GD&ĐT, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn  
cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình.  
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã xác định phương hướng, nhiệm vụ  
phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 là: “...bảo đảm công bằng về cơ hội  
học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt  
đời...; hoàn chỉnh và ổn định lâu dài hệ thống giáo dục quốc dân; chú trọng phân  
luồng đào tạo sau THCS; bảo đảm liên thông giữa các cấp đào tạo...” . Yêu cầu  
về tăng cường phân luồng học sinh sau THCS tiếp tục được đề cập tại Chỉ thị  
của Bộ Chính trị số 10-CT/TW về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi,  
củng cố kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học, THCS và xóa mù chữ cho người  
lớn.  
Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 14/11/2013 của Đảng về đổi  
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định mục tiêu: “...Bảo đảm  
cho học sinh có trình độ THCS có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu  
phân luồng mạnh sau THCS, THPT phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho  
giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng....”.  
Chủ trương phân luồng mạnh sau THCS đã được cụ thể hóa trong Chiến  
lược phát triển giáo dục 2011-2020 và các văn bản pháp quy. Quyết định số  
1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt  
Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân đã xác định học sinh tốt nghiệp  
THCS có thể học tiếp theo một trong các luồng sau: 1) Trung học phổ thông; 2)  
Giáo dục nghề nghiệp (trình độ Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng và các chương  
trình đào tạo nghề nghiệp khác); 3) Giáo dục thường xuyên kết hợp với Giáo  
dục nghề nghiệp.  
Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong  
giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” trên địa bàn tỉnh Quảng Trị được cụ  
thể hóa trong Kế hoạch 1967/KH-UBND của UBND tỉnh Quảng Trị ngày  
08/5/2019 đã xác định mục tiêu đến năm 2020 ít nhất là 15% học sinh tốt nghiệp  
THCS tiếp tục học tập tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ Sơ  
cấp, Trung cấp; đối với huyện Đakrông đạt ít nhất 8%; đến năm 2025, ít nhất  
25% học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp  
đào tạo trình độ Sơ cấp, Trung cấp; đối với huyện Đakrông đạt ít nhất 15%.  
Thực hiện Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học  
sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” ban hành theo Quyết định  
số 522/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/5/2018; Chỉ thị số 24/CT-  
TTg ngày 28/5/2020 của Thủ tướng chính phủ về đẩy mạnh nguồn nhân lực có  
kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng năng lực cạnh  
tranh quốc gia trong tình hình mới; UBND tinh Quảng Trị đã ban hành Kế  
hoạch số 1967/KH-UBND ngày 08/5/2019, Kế hoạch số 3882/KH-UBND ngày  
24/8/2020 theo đó các Sở ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố đã ban  
hành các kế hoạch, chương trình hành động của ngành, của địa phương một cách  
kịp thời, đồng bộ, đặc biệt Hội đồng nhân dân huyện Hải Lăng đã ban hành  
chính sách hỗ trợ học sinh sau tốt nghiệp THCS vừa học văn hóa vừa học Trung  
cấp nghề (Nghị quyết số 22/NQ-HĐND ngày 16/7/2020); hiện nay Sở Giáo dục  
và Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, UBND các huyện, thị xã,  
thành phố đã xây dựng Quy chế phối hợp công tác hướng nghiệp và định hướng  
phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS.  
* Thực trạng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị  
Tính đến tháng 3 năm 2021 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có 23 cơ sở giáo  
dục nghề nghiệp: Gồm 03 trường Cao đẳng, 02 trường Trung cấp, 09 Trung tâm  
GDNN-GDTX, 03 doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề và 06 đơn vị khác, ngoài  
ra các Trung tâm GDNN-GDTX Đông Hà, GDNN-GDTX Hải Lăng, GDNN-  
GDTX Gio Linh, GDNN-GDTX Vĩnh Linh còn liên kết với trường Trung cấp  
số 9 Quảng Bình để đào tạo trình độ Trung cấp nghề cho học sinh GDTX.  
Các chương trình đào tạo linh hoạt và liên thông giữa các trình độ, giữa  
các ngành nghề, cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người học; tuy nhiên sức hấp  
dẫn chưa cao dẫn đến công tác tuyển sinh gặp rất nhiều khó khăn; số lượng  
tuyển sinh hệ Cao đẳng, Trung cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong các năm từ  
2017 đến nay con số không mấy khả quan, thiếu ổn định, bình quân khoảng 795  
học sinh trên năm, riêng năm 2020 chỉ tuyển sinh được 512 học sinh (Cao đẳng:  
138 học sinh, Trung cấp 383 học sinh); Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày  
05/02/2021 của UBND tỉnh giao năm 2021 là 1500 học sinh trong đó đào tạo  
Cao đẳng 500 học sinh, Trung cấp 1000 học sinh. Như vậy số lượng tuyển sinh  
hằng năm của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp rất nhỏ so với tiềm năng và quy  
mô đào tạo dẫn đến gây lãng phí về nguồn lực, cơ sở vật chất hiện có và chỉ tiêu  
năm 2021 lớn gấp 2 lần so với số lượng tuyển sinh bình quân các năm trước.  
Mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực nhưng từ thực tế cho thấy đa số học  
sinh tốt nghiệp THCS học tiếp lên THPT, tỷ lệ học sinh vào học trung cấp, cao  
đẳng nghề và các Trung tâm GDNN-GDTX còn thấp; còn một tỷ lệ không nhỏ  
học sinh tốt nghiệp THCS tham gia thị trường lao động mà không qua đào tạo đã  
gây lãng phí nguồn nhân lực và ảnh hưởng đến cơ cấu lực lượng và năng suất  
lao động.  
Học sinh học tại  
các cơ sở GDNN,  
các Trung tâm  
Học sinh tham gia  
thị trường lao  
động không qua  
đào tạo  
Số học sinh  
tốt nghiệp  
THCS năm  
học trước  
Học sinh vào lớp  
10 THPT  
TT  
Năm học  
GDNN-GDTX  
SL  
TL  
SL  
TL  
SL  
TL  
1
2
3
4
5
2016-2017  
2017-2018  
2018-2019  
2019-2020  
2020-2021  
9502  
9422  
8480  
8401  
8856  
8911  
8877  
89,24  
89,16  
85,26  
86,15  
87,89  
240  
303  
554  
557  
478  
2,53  
3,22  
5,33  
5,38  
4,73  
782  
718  
977  
876  
730  
8,23  
7,62  
9,41  
8,46  
7,23  
10387  
10344  
10100  
Từ bảng số liệu trên ta thấy, tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp vào “luồng” giáo  
dục nghề nghiệp hằng năm có tăng nhưng không đáng kể, và thiếu ổn định; năm  
2020, có 478 học sinh sau tốt nghiệp THCS học tại các cơ sở giáo dục nghề  
nghiệp, trong đó 290 học sinh học văn hóa kết hợp với Trung cấp nghề tại các  
Trung tâm GDNN-GDTX và 188 học sinh học tại các trường Trung cấp nghề  
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, chiếm tỷ lệ 4,73% so với chỉ tiêu trong Kế hoạch  
1967/KH-UBND đến năm 2020 là 15% tương ứng với 1515 học sinh. Tại huyện  
Đakrông, năm 2020 số học sinh sau tốt nghiệp THCS tham gia học tại các cơ sở  
giáo dục nghề nghiệp là 18 học sinh chiếm tỷ lệ 3,75 học sinh so với chỉ tiêu  
trong kế hoạch là 8% tương ứng với 60 học sinh. Như vậy, chỉ tiêu phân luồng  
học sinh theo Kế hoạch 1967/KH-UBND đến năm 2020 chưa đạt yêu cầu đề ra.  
* Nguyên nhân dẫn đến chỉ tiêu phân luồng chưa đạt theo Kế hoạch  
- Tâm lý chạy theo bằng cấp còn nặng nề. Văn hóa “khoa bảng”, “bằng  
cấp” đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người dân; mọi phụ huynh học sinh đều  
mong muốn con, em mình vào học để có tấm bằng đại học, thậm chí muốn có  
bằng cấp cao hơn nữa; ngược lại không muốn con, em mình vào học các trường  
thuộc hệ thống GDNN. Văn hóa đó không dễ để một sớm một chiều có thể thay  
đổi.  
- Còn thiếu các cơ chế phối hợp, thiếu đồng bộ và chưa quyết liệt trong  
công tác quản lý nhà nước; công tác phân luồng nói chung và phân luồng học  
sinh sau THCS nói riêng là vấn đề hết sức phức tạp, không chỉ là nhiệm vụ của  
ngành giáo dục và đào tạo mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, không  
chỉ là trách nhiệm điều tiết của UBND tỉnh, của các Sở ngành liên quan, mà còn  
là nhiệm vụ của các trường phổ thông, của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và  
giáo dục đại học, của các doanh nghiệp - đơn vị sử dụng nhân lực và của cả học  
sinh, phụ huynh học sinh.  
- Việc triển khai chương trình giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học  
sinh ở các trường THCS còn mang tính hình thức; trong lúc đó các Trung tâm  
GDNN-GDTX được giao nhiệm vụ này còn lúng túng về hình thức, nội dung tổ  
chức; đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo bài bản, thiếu thông tin; hoạt động tư  
vấn, phân luồng của các Trung tâm GDNN-GDTX còn thiếu sự ủng hộ, phối  
hợp của các trường THCS và các cấp quản lý giáo dục.  
- Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn hoạt động cầm chừng, chưa đổi mới  
về phương thức tuyển sinh, cơ chế chính sách cho người học còn trông chờ vào  
nguồn vốn của nhà nước, chưa đa dạng các hình thức và ngành nghề đào tạo để  
tạo sức hấp dẫn cho người học.  
Công tác quản lý, quản trị nhà trường, chương trình, giáo trình, cơ sở vật  
chất, năng lực đội ngũ giáo viên... những kỹ năng mới nảy sinh, đòi hỏi người  
lao động cần được đào tạo kịp thời và đáp ứng phù hợp nhu cầu phát triển.  
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong Cách mạng công nghiệp 4.0 thay đổi rất  
nhanh chóng trong khi trang thiết bị dạy nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp  
hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu về chương trình đào tạo, đặc biệt chưa  
tương thích xu hướng đào tạo của quốc tế.  
Trình độ ứng dụng khoa học công nghệ của các giảng viên, học viên tại  
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp xu hướng phát  
triển khoa học công nghệ trong bối cảnh mới. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp  
chưa gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp; chưa xây dựng các hội đồng kỹ năng  
ngành với sự tham gia của doanh nghiệp trong việc hoạch định chính sách vĩ  
mô, dự báo lao động, việc làm, xác định các tiêu chuẩn ngành. Đồng thời, doanh  
nghiệp chưa tham gia sâu vào việc phát triển chương trình, thực tập, thực hành  
trong quá trình đào tạo và đào tạo gắn kết chặt chẽ với tạo việc làm…  
- Chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp thấp, một tỷ lệ không nhỏ  
học sinh tốt nghiệp chưa đáp ứng với yêu cầu sử dụng lao động của doanh  
nghiệp, chưa tự tạo việc làm dẫn đến thất nghiệp hoặc làm việc không đúng với  
ngành nghề đã được đào tạo.  
- Cơ hội việc làm và chính sách tiền lương đối với người đã qua đào tạo  
còn hạn chế, nhu cầu sử dụng lao động có tay nghề của các doanh nghiệp trên  
địa bàn tỉnh Quảng Trị chưa cao.  
- Chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 các trường THPT công lập hằng năm lớn  
vì vậy đa số học sinh sau khi tốt nghiệp THCS đều vào các trường THPT (bình  
quân khoảng 87%).  
- Ảnh hưởng của chính sách tuyển sinh Đại học; thực tiễn những năm qua,  
từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện đồng thời chính sách thi tuyển sinh Đại  
học với điểm sàn chung thấp và xét tuyển Đại học thông qua xét điểm học bạ  
THPT thì cơ hội học sinh tốt nghiệp THPT vào Đại học mở rộng hơn, hệ lụy là  
học sinh tốt nghiệp THCS, THPT vào hệ thống giáo dục nghề nghiệp thấp.  
* Một số giải pháp  
1. Nâng cao nhận thức của người dân và toàn xã hội về giáo dục nghề  
nghiệp  
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cơ  
quan quản lý giáo dục các cấp, các cơ sở giáo dục phổ thông, cha mẹ học sinh và  
các tầng lớp nhân dân, của xã hội về ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục nghề  
nghiệp đối với phát triển kinh tế, xã hội, phát triển con người; phải thực sự xem  
đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị chứ không phải chỉ riêng ngành  
giáo dục và đào tạo.  
Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, các cấp ủy Đảng, chính quyền  
các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông để xã hội nhận  
thức đúng về con đường vào Đại học không phải là con đường duy nhất của mỗi  
con người; làm cho văn hóa “khoa bảng” văn hóa “bằng cấp” từng bước được  
thoát ly dần trong tiềm thức của mọi người dân. Đây là một việc làm rất khó  
không dễ để thay đổi ngay mà đòi hỏi phải mất nhiều thời gian và kiên trì thực  
hiện đồng bộ các giải pháp phù hợp với sự vào cuộc của các cấp các ngành mà  
chủ trì là ngành Giáo dục và Đào tạo.  
2. Đổi mới cơ chế, chính sách; tăng cường nguồn lực tài chính, cơ sở  
vật chất, thiết bị cho hoạt động tư vấn, phân luồng  
Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong  
giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” trên địa bàn tỉnh Quảng Trị được cụ  
thể hóa trong Kế hoạch 1967/KH-UBND của UBND tỉnh Quảng Trị, theo đó  
UBND các huyện, thị xã, thành phố đã ban hành các Kế hoạch để thực hiện; tuy  
nhiên để đạt được mục tiêu đề ra thì bên cạnh sự nổ lực của các cơ sở giáo dục  
nghề nghiệp, các trường phổ thông thì cơ quan quản lý nhà nước các cấp cần  
phải có những cơ chế, chính sách đặc thù cho từng địa phương, đơn vị để hỗ trợ,  
tạo điều kiện cho người học, chẳng hạn như chính sách hỗ trợ học phí cho học  
sinh vừa học văn hóa GDTX vừa học trung cấp nghề, chính sách vay vốn, tạo  
việc làm cho người sau khi học nghề…đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất,  
trang thiết bị như hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, cở sở dữ liệu, các phần  
mềm ứng dụng và các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác tư vấn, phân  
luồng.  
3. Thực hiện quyết liệt công tác chỉ đạo, phát huy hết vai trò của các  
cơ quan quản lý nhà nước  
Đổi mới công tác chỉ đạo của các cấp quản lí giáo dục và hoạt động quản  
lí giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau THCS của các cơ sở giáo dục  
và đào tạo; về vai trò tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người  
học trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Tổ chức rà soát, đánh giá việc thực  
hiện các thành tố của công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh  
hiện nay. Kế thừa phát huy những thành tựu của giáo dục hướng nghiệp và công  
tác phân luồng học sinh sau trung học trong thời gian qua. Phát triển những nhân  
tố mới; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới, của các địa phương  
để đổi mới hình thức, nội dung và phương pháp phù hợp với điều kiện của tỉnh  
nhà.  
Trên cơ sở quy chế phối hợp giữa Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động -  
Thương binh và Xã hội và UBND các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan cần  
thực hiện đúng nguyên tắc phối hợp; chỉ đạo Phòng giáo dục đào tạo, Trung tâm  
GDNN-GDTX, UBND cấp huyện đưa chỉ tiêu công tác phân luồng vào nhiệm  
vụ phát triển kinh tế xã hội hằng năm, tăng cường kiểm tra, giám sát và định kỳ  
có đánh giá, sơ kết để kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân  
thực hiện tốt nhiệm vụ đồng thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế tồn tại,  
xác định rõ trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân để có những giải pháp khắc  
phục phù hợp.  
4. Đổi mới hoạt động giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập  
quốc tế  
Để thực hiện được mục tiêu đào tạo, đáp ứng được nhu cầu của thị trường  
lao động và phát triển con người thì trong thời gian tới các cơ sở giáo dục nghề  
nghiệp cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:  
Một là, tăng cường gắn kết với doanh nghiệp, bởi chỉ có doanh nghiệp  
mới định hướng đúng nhất về công nghệ, yêu cầu ngắn hạn và dài hạn đối với  
đội ngũ lao động để bảo đảm doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong bối cảnh  
hội nhập quốc tế.  
Hai là, nâng cao chất lượng kỹ năng nghề cho lao động trong bối cảnh  
Cách mạng công nghiệp 4.0; đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp  
theo hướng mở, linh hoạt, tạo cơ hội tiếp cận đối với mọi người dân, phục vụ  
học tập suốt đời.  
Ba là, tăng cường tự chủ cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; chuẩn hóa  
các điều kiện bảo đảm chất lượng; tăng cường kết hợp với doanh nghiệp ở tất cả  
các cấp độ, mở rộng hợp tác quốc tế để lĩnh hội những kiến thức giáo dục nghề  
nghiệp tiên tiến trên thế giới.  
Bốn là, từng bước xây dựng giáo dục nghề nghiệp mở trên cơ sở áp dụng  
mạnh tiến bộ của công nghệ thông tin trong dạy và học, triển khai đào tạo trực  
tuyến, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động cập nhật, nâng cao kỹ năng suốt  
cuộc đời.  
Năm là, sớm hoàn thiện và tổ chức thực hiện khung trình độ quốc gia với  
các chuẩn đầu ra được cụ thể hóa cho từng trình độ và từng ngành nghề trên cơ  
sở đồng thuận của các cơ quan quản lý, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các cơ  
sở giáo dục đại học, các doanh nghiệp và các hội nghề nghiệp.  
* Về chương trình, giáo trình: Xây dựng và triển khai các chương trình  
đào tạo liên thông và công nhận văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp các chương trình  
đào tạo liên thông của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Hiện nay Bộ GD&ĐT và  
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp trong lãnh đạo và chỉ đạo các cơ  
sở đào tạo hợp tác, xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo liên thông.  
Liên thông dọc từ THCS lên Trung cấp, từ Trung cấp lên Cao đẳng hoặc  
Đại học; đồng thời, cần xây dựng các chương trình đào tạo liên thông ngang từ  
chương trình đào tạo Trung cấp của một lĩnh vực/ ngành đào tạo sang chương  
trình đào tạo trình độ Trung cấp của lĩnh vực/ ngành đào tạo khác /hoặt liên  
thông chéo lên chương trình đào tạo Cao đẳng, Đại học của lĩnh vực/ ngành đào  
tạo khác.  
Tuy nhiên, để có thể thực hiện được phân luồng đào tạo theo các chương  
trình đào tạo liên thông, đặc biệt là đào tạo liên thông được thực hiện ở các cơ sở  
đào tạo khác nhau là vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi phải đảm bảo điều kiện là  
các chương trình đào tạo liên thông và văn bằng do các cơ sở đào tạo cấp phải  
được các cơ sở đào tạo công nhận lẫn nhau.  
Để giải quyết vấn đề này, các Sở GD&ĐT và Sở LĐ-TB&XH cần tham  
mưu với các Bộ ngành liên quan ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể; chỉ  
đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục Đại học trực tiếp ký kết các thỏa  
thuận về phối hợp xây dựng/ công nhận chương trình đào tạo liên thông để đáp  
ứng được nhu cầu người học.  
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần mở rộng hợp tác trong xây dựng giáo  
trình, tranh thủ ý kiến của các nhà khoa học, các nghệ nhân và doanh nghiệp để  
xây dựng giáo trình giảng dạy đảm bảo khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế  
của địa phương.  
* Về cơ sở vật chất, thiết bị và xây dựng đội ngũ: Các cơ sở giáo dục nghề  
nghiệp cần liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp để tiếp cận các thiết bị và  
công nghệ mới, hiện đại; tăng cường giảng viên, giáo viên về thực hành tại các  
doanh nghiệp để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Trong thời đại khoa học công  
nghệ phát triển nhanh chóng, các thiết bị luôn được thay đổi, cải tiến hiện đại;  
trong lúc đó nguồn lực ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn nhiều hạn chế, khó  
trang bị kịp thời, nếu không hợp tác với doanh nghiệp thì kỹ năng nghề của học  
sinh và cả giáo viên bị lạc hậu, đi sau thời đại dẫn đến sau khi đào tạo khó đáp  
ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp và thị trường lao động.  
5. Đổi mới công tác quản lý, hình thức và nội dung tư vấn, phân luồng  
sau THCS  
Tư vấn phân luồng học sinh hiện nay đang được thực hiện ở tất cả các cơ  
sở giáo dục phổ thông và các Trung tâm GDNN-GDTX; trong kế hoạch thực  
hiện nhiệm vụ các năm học Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề cập đến vấn đề  
này, tuy nhiên việc tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, sơ kết tổng kết còn  
mang tính hình thức, chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức; thậm chí một  
số trường phổ thông không phối hợp với các Trung tâm GDNN-GDTX để thực  
hiện, còn các Trung tâm thì vẫn còn lúng túng về hình thức tổ chức, nội dung và  
phương pháp tư vấn, phân luồng, thiếu đội ngũ báo cáo viên và chưa có ràng  
buộc về mặt pháp lý nên chất lượng hiệu quả không cao để khắc phục những hạn  
chế yếu kém trên cần tập trung một số giải pháp sau:  
Một là, Sở Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng chương trình, giáo trình về  
tư vấn hướng nghiệp, phân luồng học sinh; mời các chuyên gia tập huấn để nâng  
cao năng lực cho đội ngũ giáo viên làm công tác hướng nghiệp.  
Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành các văn chỉ đạo các cơ  
sở giáo dục xây dựng quy chế phối hợp trong việc thực hiện công tác tư vấn,  
phân luồng; quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị; định kỳ phải có  
báo cáo sơ kết đánh giá việc thực hiện.  
Ba là, các Trung tâm GDNN-GDTX cần đổi mới hình thức và nội dung  
công tác tư vấn tránh rập khuôn, máy móc; hiện nay tại Trung tâm GDNN-  
GDTX thành phố Đông Hà đã có những đổi mới đột phá và bước đầu mang lại  
hiệu quả thiết thực, cụ thể: Đối với học sinh THPT tư vấn cho đối tượng lớp 12  
như trước đây, chúng tôi thấy kém hiệu quả vì hiện nay ngay từ khi vào lớp 10  
học sinh đã được tiếp cận về các thông tin tuyển sinh trên các phương tiện thông  
tin đại chúng và từ gia đình, các em đã có định hướng từ năm lớp 11, chính vì  
vậy thay vì tư vấn cho học sinh lớp 12 chúng tôi chuyển xuống lớp 11, vừa  
tuyển sinh học nghề phổ thông, vừa tư vấn hướng nghiệp; mặt khác không  
ngừng đổi mới nội dung chương trình, đầu tư thiết bị để hỗ trợ, chia sẽ, kết nối  
thông tin, tạo hứng thú cho người học, kích thích sự sáng tạo của giáo viên. Đối  
với học sinh THCS bên cạnh việc lồng ghép giáo dục hướng nghiệp vào môn  
nghề phổ thông, hằng năm chúng tôi tổ thức ít nhất 01 đợt tư vấn phân cho  
trường THCS, với nội dung và hình thức tổ chức rất phong phú và đa dạng, lồng  
ghép với giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống cho học sinh. Qua 2 năm thực hiện  
chúng tôi nhận thấy số lượng và chất lượng tư vấn phân luồng được tăng lên rõ  
rệt, có tác dụng lan toả trong học sinh, giáo viên và phụ huynh.  
Bốn là, các trường THCS cần đổi mới nội dung, phương thức giáo dục  
hướng nghiệp phù hợp với đặc điểm của học sinh và điều kiện của nhà trường  
trong tình hình mới. Chương trình, nội dung giáo dục hướng nghiệp trong các  
trường THCS là cụ thể hóa mục tiêu giáo dục hướng nghiệp theo yêu cầu phát  
triển nhân lực của địa phương, đất nước trong giai đoạn mới và điều kiện của  
nhà trường, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Lựa chọn những chương trình  
giáo dục hướng nghiệp phù hợp với đặc thù chương trình giáo dục phổ thông  
năm 2018 và khả năng nhận thức của học sinh là rất quan trọng và cần thiết, tạo  
điều kiện cho học sinh tiếp cận với các kiến thức nghề nghiệp một cách đầy đủ,  
từ đó có sự đối chiếu, lựa chọn nghề phù hợp. Đổi mới nội dung giáo dục hướng  
nghiệp theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ  
và định hướng ngành nghề; tăng hoạt động thực hành, trãi nghiệm và vận dụng  
kiến thức vào thực tiễn. Tích cực chuẩn bị năng lực ngoại ngữ và tin học theo  
hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của học sinh đáp ứng  
nhu cầu nghề nghiệp trong tương lai. Cần cụ thể hóa các yêu cầu về kiến thức,  
kỹ năng, thái độ của giáo dục hướng nghiệp phù hợp với từng nhóm đối tượng  
học sinh để từ đó quán triệt vào các môn học. Chương trình, nội dung giáo dục  
hướng nghiệp cần được thực hiện theo hướng mở, đa dạng hóa, linh hoạt, liên  
thông giữa các cấp học, năng lực người dạy và người học, đặc điểm và nhu cầu  
địa phương; phù hợp với các phương thức giáo dục hướng nghiệp.  
6. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên làm công tác  
hướng nghiệp, phân luồng  
Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên là lực lượng nồng cốt triển  
khai nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường; phát triển cả về số  
lượng và chất lượng đội ngũ làm công tác giáo dục hướng nghiệp trong các nhà  
trường sẽ là cơ sở quan trọng để tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp, phân  
luồng có hiệu quả vì các lý do sau:  
Một là, xây dựng một đội ngũ cán bộ quản lí trường phổ thông có năng  
lực làm công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh, am hiểu về tình  
hình phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu nguồn nhân lực ở địa phương.  
Hai là, phát triển đội ngũ giáo viên làm công tác hướng nghiệp đủ về số  
lượng, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm để  
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người học.  
Ba là, thu hút một đội ngũ cộng tác viên tư vấn nghề nghiệp với những  
thành phần phù hợp tham gia vào các hoạt động giáo dục hướng nghiệp của các  
trường phổ thông, trong đó quan tâm đến thành viên đến từ các cơ sở giáo dục  
nghề nghiệp, các trường Đại học, các nhà máy, xí nghiệp… đóng trên địa bàn  
tỉnh.  
Phân luồng học sinh sau THCS là một lĩnh vực rất quan trọng trong công  
tác quản lý nhà nước, cần huy động nhiều tổ chức, cá nhân tham gia trong đó  
ngành giáo dục và đào tạo đóng vai trò chủ chốt, nhằm tạo nguồn nhân lực có  
chất lượng đáp ứng với nhu cầu thị trường lao động, góp phần phát triển kinh tế  
xã hội của địa phương, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển con người. Để đạt  
được mục tiêu đề ra thì ba thành tố cơ bản là xây dựng chính sách, cở sở vật chất  
và đội ngũ giáo viên phải đồng bộ và phù hợp từng giai đoạn cụ thể; tuy nhiên  
khâu tổ chức thực hiện là quan trọng nhất, quyết định đến việc thành công hay  
thất bại của công tác phân luồng học sinh sau THCS; vì vậy, cần phải có những  
giải pháp sáng tạo, sát với điều kiện thực tế của từng địa phương, đơn vị; tăng  
cường công tác truyền thông để làm thay đổi nhận thức của người dân và toàn xã  
hội về giáo dục nghề nghiệp; các ngành, các địa phương cần chia sẽ, kết nối  
thông tin để đánh giá đúng thực trạng của thị trường lao động; số lượng, chất  
lượng và cơ cấu nguồn nhân lực để làm tốt công tác dự báo trên cơ sở đó điều  
chỉnh những chính sách phù hợp với quy luật khách quan theo cơ chế kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế./.  
pdf 11 trang minhvan 10/07/2024 8320
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_phan_luong_hoc_sinh_sau_tot_nghiep_thcs_tren_dia_ban_ti.pdf