SKKN Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn cấp THCS trên địa bàn huyện Nam Trà My

Nhiệm vụ nâng cao chất lượng đại trà là một việc làm thiết thực của các cấp quản lý giáo dục nói chung, của các trường trung học cơ sở (THCS) nói riêng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc  
BÁO CÁO SÁNG KIẾN  
Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn cấp THCS  
trên địa bàn huyện Nam Trà My  
1. Mô tả bản chất của sáng kiến:  
1.1. Các giải pháp thực hiện, các bước và cách thực hiện:  
Nhiệm vụ nâng cao chất lượng đại trà là một việc làm thiết thực của các  
cấp quản lý giáo dục nói chung, của các trường trung học cơ sở (THCS) nói  
riêng. Ở huyện Nam Trà My, điều kiện kinh tế còn khó khăn, đại bộ phận cha  
mẹ học sinh, học sinh còn nhận thức chưa đầy đủ về lợi ích của việc học, chưa  
thực sự kiên trì vượt mọi khó khăn để cho con em và chính bản thân mình vươn  
lên học hành tiến bộ để đạt kết quả cao.  
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ quan trọng trong việc  
nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương và đất nước.  
Bồi dưỡng học sinh giỏi là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nhiều  
công sức của giáo viên và học sinh.  
Với sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ thầy cô giáo và các em học sinh, nề  
nếp thi đua dạy tốt - học tốt đã góp phần nâng cao chất lượng đại trà cũng như  
chất lượng mũi nhọn của các trường. Công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn  
huyện trong những năm qua đã nỗ lực vượt qua những khó khăn và thách thức  
để đạt nhiều thành tích đáng khích lệ. Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượng giáo  
dục trong những năm học qua đang là một bài toán khó chưa tìm được lời giải  
để đáp ứng được yêu cầu.  
Vì vậy muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục phổ thông nói  
chung, cấp trung học cơ sở nói riêng phải xây dựng được các biện pháp quản lý  
hoạt động dạy và học ở các trường, từ đó từng bước nâng cao chất lượng giáo  
dục toàn diện.  
2
Qua thời gian gần ba năm phụ trách công tác chuyên môn cấp trung học  
cơ sở tại Phòng Giáo dục và Đào tạo, tôi nhận thấy rꢀng chất lượng giáo dục cấp  
THCS chưa có sự chuyển biến đáng kể và chưa đánh giá được thực chất.  
Để thực hiện sáng kiến này, trước tiên tôi nghiên cứu thực trạng chất  
lượng giáo dục (học lực) của học sinh ở các trường có cấp THCS trực thuộc để  
nắm bắt tình hình chất lượng giáo dục ở các trường THCS. Đồng thời, thống kê  
kết quả tham gia các hội thi cấp huyện và cấp tỉnh, nhất là thi học sinh giỏi để có  
giải pháp nâng cao chất lượng mũi nhọn ở các trường THCS nói riêng và toàn  
huyện nói chung.  
Thống kê học lực và hạnh kiểm cuối năm học 2018-2019 và năm học  
2019-2020:  
Tổng  
số  
HS  
Giỏi  
Khá  
TB  
Yếu  
Kém  
Năm  
học  
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%  
2018-  
2019  
2019-  
2020  
125  
141  
5.9 586  
27.7 1249  
59.1 139  
6.6  
4.8  
14  
11  
0.7  
0.5  
2113  
2205  
6.4 623 28.3 1325 60.1 105  
Từ thực trạng trên, tôi đã đề ra các giải pháp sau:  
1.1.1 Công tác chỉ đạo và triển khai thực hiện:  
- Chất lượng giáo dục đại trà vẫn còn thấp so với mặt bꢀng chung của toàn  
tỉnh cũng như so với các huyện khu vực miền núi. Việc chỉ đạo nâng cao chất  
lượng giáo dục toàn diện là một việc làm thường xuyên gắn với việc thực hiện  
nhiệm vụ năm học. Ngay từ đầu năm học, Phòng GDĐT giao chỉ tiêu và yêu cầu  
các trường đăng ký chỉ tiêu, mức chất lượng của nhà trường để cuối năm học có  
sự đối sánh, đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của các trường.  
- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra chất lượng, đặc biệt là kết quả cuối học  
kì để có sự nhắc nhở đối với các trường, xem xét các tỉ lệ xếp loại học lực so với  
các tiêu chí về đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục và trường đạt chuẩn quốc  
gia.  
- Cuối năm học, phân công kiểm tra, giám sát việc tổ chức kiểm tra cuối  
học kì của các trường để có sự góp ý, chấn chỉnh kịp thời, đồng thời để tạo ra sự  
3
công bꢀng, khách quan và chính xác trong việc đánh giá chất lượng dạy và học ở  
các trường, phòng GDĐT phân công giáo viên giám sát, chấm chéo đối với ba  
môn chính ở khối lớp 9. Đây cũng là bước đầu thay đổi suy nghĩ và nhận thức  
của giáo viên và học sinh trọng việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.  
Học sinh sẽ có ý thức học tập hơn, không ỷ lại. Giáo viên sẽ có trách nhiệm, nỗ  
lực hơn trong công tác giảng dạy, ôn tập cho học sinh. Từ kết quả bài kiểm tra  
học kì, lãnh đạo nhà trường thấy được chất lượng học sinh ở mức độ nào để năm  
học sau xây dựng kế hoạch, giải pháp dạy và học phù hợp hơn, hiệu quả hơn.  
1.1.2. Tổ chức sinh hoạt các nhóm chuyên môn:  
Năm học 2020-2021, chuyển từ sinh hoạt cụm chuyên môn thành sinh  
hoạt nhóm chuyên môn để tạo điều kiện cho các giáo viên có cùng chuyên môn  
trong tất cả các trường trung học cơ sở có cơ hội tổ chức thao giảng, chuyên đề.  
Đầu năm học, các nhóm chuyên môn rà soát chương trình, xây dựng kế hoạch  
giáo dục bộ môn để thống nhất trong việc tổ chức dạy học bộ môn trong toàn  
huyện, xây dựng khung bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8, 9. Qua sinh hoạt thao  
giảng, chuyên đề, dự giờ, cán bộ, giáo viên thảo luận, đánh giá rút kinh nghiệm  
và đề ra phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh cũng như học hỏi  
được kinh nghiệm từ đồng nghiệp. Đồng thời, khi tổ chức thao giảng, chuyên  
đề, cán bộ, giáo viên có cơ hội được tham quan, chọn lọc học tập được mô hình  
hay mà mỗi trường đã xây dựng về xây dựng cảnh quan, công tác bán trú, tổ  
chức lớp học…  
1.1.3. Tổ chức các Hội thi cấp huyện:  
- Xây dựng kế hoạch tổ chức các Hội thi và triển khai sớm đến các trường  
để có sự chủ động trong việc bồi dưỡng, tập luyện. Đối với mỗi kế hoạch, trước  
khi ban hành đều gửi dự thảo đến các trường để có sự góp ý và thống nhất trong  
cách thực hiện. Tổ chức tất cả các Hội thi theo kế hoạch và hướng dẫn của Sở  
Giáo dục và Đào tạo, không rập khuôn máy móc mà có sự điều chỉnh linh hoạt  
để phù hợp với điều kiện của địa phương, phù hợp với đối tượng giáo viên và  
học sinh trên địa bàn.  
4
- Việc tính toán, sắp xếp, bố trí thời gian tổ chức các Hội thi cũng rất quan  
trọng, vừa cho các trường có thời gian chuẩn bị, bố trí nhân lực, vừa có thời gian  
tuyển chọn học sinh đăng ký tham gia Hội thi cấp tỉnh kịp thời và có thời gian  
để bồi dưỡng tham gia thi cấp tỉnh có chất lượng.  
- Việc tổ chức các Hội thi cần có sự thảo luận, bàn bạc kĩ, công tác tổ  
chức chuẩn bị chu đáo, đánh giá kết quả khách quan, chính xác sẽ tạo động lực  
cho các đơn vị.  
1.1.4. Tham gia các Hội thi, Kỳ thi cấp tỉnh:  
- Đăng ký tham gia tất cả các Hội thi do Sở GDĐT tổ chức về cơ cấu bộ  
môn, nội dung và số lượng học sinh. Phòng GDĐT căn cứ kế hoạch, hướng dẫn  
của Sở GDĐT, tổ chức tất cả các hội thi ở cấp huyện nhꢀm tạo sân chơi, môi  
trường để cho học sinh cọ xát, qua đó tuyển chọn những tập thể, cá nhân tiêu  
biểu, xuất sắc nhất tham gia dự thi cấp tỉnh.  
- Trên cơ sở kết quả các Hội thi cấp huyện, tuyển chọn học sinh và đội  
ngũ giáo viên có kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm tham gia bồi dưỡng, tập  
luyện. Trong thời gian chuẩn bị, chuyên môn Phòng GDĐT luôn theo dõi sâu  
sát, đôn đốc việc tập luyện, bồi dưỡng, nắm bắt tình hình và góp ý cho giáo viên  
trong việc tập luyện ở các đơn vị. Trong việc tuyển chọn học sinh tham gia, cần  
có sự bao quát, tránh trường hợp một sinh tham gia nhiều Hội thi gây áp lực và  
quá tải trong quá trình tập luyện, bồi dưỡng.  
- Tham gia Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh: Bộ phận chuyên môn  
Phòng GDĐT tổng hợp tất cả các dự án các trường đăng ký; Nghiên cứu kĩ từng  
đề tài về bố cục và nội dung, sau đó chọn dự án đăng ký dự thi cấp tỉnh và chỉnh  
sửa, góp ý cho các đề tài này điều chỉnh để đảm bảo hồ sơ theo quy định, nộp về  
Sở GDĐT tham gia dự thi vòng sơ loại. Sau khi có kết quả chấm vòng loại, Bộ  
phận chuyên môn tiếp tục góp ý đối với các đơn vị được chọn để hoàn thiện các  
đề tài, chuẩn bị sản phẩm dự thi vòng 2 (vòng chung kết cấp tỉnh).  
5
1.2. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:  
- Việc sinh hoạt chuyên môn: Từ năm học 2014-2015 đến năm học 2019-  
2020, Phòng GDĐT triển khai, chỉ đạo các trường sinh hoạt theo cụm chuyên  
môn tạo điều kiện cho các tổ chuyện môn, giáo viên cùng chuyên môn trao đổi  
kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau. Mỗi cụm chuyên môn gồm 3-4 trường gần nhau,  
tương đồng về điều kiện địa lý. Tuy nhiên, việc sinh hoạt cụm chuyên môn  
không mang lại hiệu quả do đội ngũ giáo viên mỏng, một số bộ môn khuyết giáo  
viên nên có bộ môn sinh hoạt theo cụm chuyên môn rất khó khăn, có bộ môn chỉ  
có 01 giáo viên hoặc không có giáo viên như môn Âm nhạc, Mĩ thuật. Dẫn đến  
sinh hoạt chuyên đề các bộ môn này thì chủ yếu là cán bộ quản lý, tổ trưởng, tổ  
phó chuyên môn tham gia, không có giáo viên chuyên để cùng thảo luận, trao  
đổi chuyên môn nên không giúp nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.  
- Công tác kiểm tra, đánh giá: Trong các năm học trước, Phòng GDĐT tổ  
chức phân công cán bộ quản lý, giáo viên đi giám sát kiểm tra học kì tại các  
trường, sau đó niêm phong bài kiểm tra đem về Phòng GDĐT. Phòng GDĐT  
tiến hành làm phách và triệu tập giáo viên về tại Phòng, phân công giáo viên  
chấm chéo và vào điểm. Việc làm này vừa tốn nhân lực, thời gian nhưng việc  
chấm bài không được chính xác do số lượng bài tập trung quá nhiều, việc rọc  
phách, hồi phách của Phòng cũng chiếm nhiều thời gian.  
- Việc tổ chức các Kỳ thi, Hội thi cấp huyện: Chưa xây dựng kế hoạch dài  
hạn để các trường chủ động trong việc xây dựng kế hoạch và chọn lựa học sinh  
vì số lượng học sinh khá, giỏi ở các trường trực thuộc còn hạn chế, nhất là học  
sinh lớp 9 (do số học sinh khá, giỏi hầu hết đã tuyển sinh vào lớp 9 trường  
PTDTNT huyện). Trước đây, thi học sinh giỏi lớp 9 chỉ tổ chức thi các môn  
Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh và Lịch sử, đối tượng tham gia là học sinh lớp 9;  
Điều kiện đạt giải toàn đoàn thi học sinh giỏi cấp huyện: các trường tham gia  
đầy đủ các bộ môn mà không tính đến việc có trường thiếu giáo viên chuyên dẫn  
đến không có học sinh tham gia nên không đủ điều kiện. Chưa mạnh dạn tổ chức  
thi học sinh giỏi môn Tin học và Thí nghiệm thực hành cấp huyện mà chỉ chọn  
6
học sinh ở một trường tham gia thi cấp tỉnh ba môn Hóa học, Sinh học và Vật lý.  
Việc khen thưởng cá nhân đạt giải ở các Hội thi cũng hạn chế vì thang điểm khá  
cao nên ít học sinh đạt giải. Vì vậy không tạo được động lực, phong trào học tập,  
thi đua ở các trường.  
- Việc tham gia các Kỳ thi, Hội thi cấp tỉnh: Chỉ chọn những học sinh đạt  
giải Khuyến khích trở lên tham gia Kỳ thi học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh nên số  
lượng học sinh tham gia rất ít nên phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi nâng cao  
chất lượng mũi nhọn còn hạn chế.  
1.3. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm  
hiện tại:  
- Tổ chức sinh hoạt nhóm chuyên môn: Năm học 2020-2021, chuyển từ  
sinh hoạt cụm chuyên môn thành sinh hoạt nhóm chuyên môn. Phòng GDĐT tổ  
chức thành lập các nhóm chuyên môn: Toán, Ngữ văn-GDCD, Tiếng Anh, Hóa-  
Sinh, Lý-Công nghệ, Âm nhạc-Mỹ thuật, Thể dục, Lịch sử, Địa lí, Tin học nhꢀm  
tạo điều kiện cho các giáo viên có cùng chuyên môn trong tất cả các trường  
trung học cơ sở có cơ hội tổ chức thao giảng, chuyên đề, thống nhất trong việc  
tổ chức dạy học bộ môn. Các nhóm chuyên môn còn rà soát chương trình, xây  
dựng kế hoạch giáo dục bộ môn, xây dựng khung bồi dưỡng học sinh giỏi…  
Các nhóm chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chức thao giảng, chuyên đề.  
Khi tổ chức sinh hoat, sau khi dự giờ đều tổ chức thảo luận và ghi chép biên  
bản, báo cáo về bộ phận chuyên môn THCS hồ sơ gồm nội dung thao  
giảng/chuyên đề và biên bản thảo luận.  
- Công tác kiểm tra đánh giá kết quả lớp 9: Phân công chéo giáo viên theo  
bộ môn (Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh) tham gia giám sát công tác kiểm tra, làm  
phách, chấm bài, vào điểm các môn. Việc làm này không mất nhiều thời gian vì  
khi chấm tại trường, tổ làm phách của trường tiến hành cắt phách và bàn giao  
cho giáo viên chấm tại trường, giáo viên chỉ nhập điểm và báo cáo kết quả về  
Phòng GDĐT.  
7
- Tổ chức các Kỳ thi, Hội thi cấp huyện: Đối với thi học sinh giỏi: Tổ  
chức thi đầy đủ các môn Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh lớp 8; thi đầy đủ các môn  
Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí và Tin học  
lớp 9 để có nguồn chọn đội tuyển tham gia dự thi cấp tỉnh. Mở rộng đối tượng  
học sinh lớp 8 được tham gia dự thi ở lớp 9 vì số lượng học sinh lớp 9 ít. Đối với  
môn Tin học và các môn thí nghiệm thực hành: do mới tổ chức nên bản thân  
cũng tham khảo, tìm tòi học hỏi cách thức tổ chức, ra đề và chấm cho đảm bảo  
tính khách quan, chính xác. Cơ cấu lại giải thưởng vừa theo thang điểm, vừa linh  
hoạt theo bộ môn nhꢀm khuyến khích học sinh.  
- Tham gia các Hội thi, Kỳ thi cấp tỉnh: Tuyển chọn học sinh, giáo viên  
bồi dưỡng, đăng ký tham gia đủ số bộ môn và số lượng học sinh tối thiểu. Chọn  
học sinh dựa trên kết quả thi học sinh giỏi cấp huyện theo điểm từ cao xuống  
thấp, kể cả những học sinh không đạt giải. Riêng môn Tin học: năm học 2020-  
2021, bộ phận chuyên môn đã tham mưu lãnh đạo Phòng triệu tập một giáo viên  
có năng lực về bồi dưỡng cho học sinh trước khi tham gia dự thi cấp tỉnh.  
1.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến:  
Hiện nay tại trên địa bàn huyện Nam Trà My chưa có nghiên cứu nào về  
nội dung này. Về khả năng áp dụng của sáng kiến: Bản thân đã đúc rút kinh  
nghiệm và áp dụng các biện pháp, giải pháp trên nhꢀm nâng cao hiệu quả, chất  
lượng dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng mũi nhọn cấp  
THCS. Đề tài này đã bước đầu phát huy hiệu quả ở cấp THCS trong năm học  
qua.  
1.5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:  
Để nhiệm vụ nâng cao chất lượng đại trà của nhà trường thuận lợi và đạt  
kết quả tốt, Phòng GDĐT tham mưu với UBND huyện tăng cường đầu tư cơ sở  
vật chất, ổn định đội ngũ giáo viên. Cần tổ chức những đợt báo cáo chuyên đề  
về công tác ôn tập phụ đạo với đối tượng học sinh yếu kém, công tác bồi dưỡng  
học sinh giỏi của các đơn vị và của những giáo viên có kinh nghiệm.  
8
- Cán bộ quản lý các trường thường xuyên theo dõi, kiểm tra nắm tình  
hình thực hiện chương trình kế hoạch dạy học hàng tuần, tháng và có biện pháp  
xử lý kịp thời đối với giáo viên vi phạm quy chế, quy định chuyên môn. Quá  
trình quy hoạch sử dụng cán bộ, giáo viên phù hợp với năng lực chuyên môn,  
phát huy được mọi khả năng trong công tác. Nhà trường cần khuyến khích, động  
lực cho giáo viên trong công tác.  
- Nhà trường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho phụ huynh thực sự  
chăm lo việc học của con em mình.  
- Giáo viên chủ động xây dựng nghiên cứu nội dung chủ đề học tập, kế  
hoạch, nội dung giảng dạy phù hợp với kĩ năng, nhận thức của học sinh và phù  
hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.  
- Phòng GDĐT tiếp tục tổ chức khảo sát chất lượng cuối mỗi học kỳ một  
cách nghiêm túc, khách quan và cùng thống nhất cách đánh giá về chất lượng  
đại trà, kết quả cụ thể của tất cả các trường THCS trong toàn huyện.  
- Huy động học sinh đi học chuyên cần, ổn định nề nếp học sinh, tạo cho  
các em môi trường học tập, tăng tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động  
trải nghiệm nhꢀm tạo sự hứng thú, thu hút các em đến trường.  
1.6. Hiệu quả sáng kiến mang lại:  
- Chất lượng dạy học của các trường ngày càng được nâng cao và củng  
cố. Tỉ lệ học sinh khá, giỏi, học sinh lên lớp thẳng tăng dần theo hꢀng năm. Tỉ lệ  
học sinh bỏ học, học sinh yếu, kém giảm dần. Kết quả phổ cập giáo dục THCS  
cũng tăng lên về số lượng và chất lượng.  
- Bước đầu làm thay đổi trong tư duy, nhận thức và hành động của giáo  
viên về thay đổi phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh nhꢀm thay đổi  
học sinh một cách toàn diện, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và  
năng lực của học sinh; Việc tổ chức phân công giáo viên giám sát, chấm chéo  
bài kiểm tra học kì tại các trường: tốn ít thời gian và nhân lực, kinh phí hỗ trợ  
cho công tác phí giảm rất nhiều so với trước đây.  
9
Thống kê học lực cuối năm học 2020-2021:  
Tổng  
số  
HS  
Giỏi  
Khá  
TB  
Yếu  
Kém  
Năm  
học  
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%  
2020-  
2021  
So  
2339  
160  
6.8  
672 28.7 1419 60.7  
82  
3.5  
6
0.3  
với  
năm  
học  
+ 134  
+19 +0.2 +49 +0.4  
+94 +0.6 -23 -1.3  
-5  
-0.2  
2019-  
2020  
Việc tổ chức thao giảng, chuyên đề cũng giúp cho các giáo viên nâng cao  
chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học, nhất là đối với giáo viên  
mới vào nghề, mới được tuyển dụng góp phần nâng cáo chất lượng dạy và học  
tại các trường THCS. Các chuyên đề, thao giảng đã tổ chức trong năm học:  
TT Môn học Chuyên đề  
Thao  
giảng  
1
Thực hiện tại đơn vị  
1
2
3
Địa lí  
PTDTBT THCS Trà Tập  
PTDTBT THCS Trà Dơn  
PTDTBT THCS Trà Cang  
PTDTBT TH&THCS Trà Nam  
PTDTBT THCS Trà Vân  
PTDTBT TH&THCS Trà Nam  
PTDTBT THCS Trà Leng  
PTDTBT THCS Trà Mai  
PTDTBT THCS Trà Linh  
PTDTBT TH&THCS Trà Vinh  
Vật lí  
1
2
Tiếng Anh  
4
5
6
7
8
9
Toán  
1
Hóa học  
Ngữ văn  
Lịch sử  
1
1
1
1
Âm nhạc  
Mĩ thuật  
Tổng cộng  
1
6
4
Tham mưu lãnh đạo Giáo dục và Đào tạo triển khai, chỉ đạo tất cả các  
nhiệm vụ, hoạt động đến các trường có cấp THCS trực thuộc, tổ chức thành  
công các Hội thi, Kỳ thi cấp huyện. Phát động và tham gia đầy đủ các cuộc thi  
dành cho giáo viên, học sinh do các cấp tổ chức. Cụ thể: Tham gia Cuộc thi  
10  
Khoa học kĩ thuật cấp tỉnh: đăng ký dự thi 05 đề tài và đạt 01 giải Ba và 01 giải  
Khuyến khích; Thi Thí nghiệm thực hành cấp tỉnh: Đạt 01 giải Ba và 02 giải  
Khuyến khích; Thi học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh: được xếp vị thứ Ba toàn đoàn,  
giải Nhất đồng đội môn Tin học và 04 giải khuyến khích (môn Tiếng Anh, Lịch  
sử và Địa lí; trong đó có 01 học sinh lớp 8 dự thi môn Tiếng Anh và đạt giải  
khuyến khích); Thi Văn học - Học Văn đạt giải Nhì cấp tỉnh; Thi Tài năng Tiếng  
Anh đạt giải Khuyến khích; Có 05 giáo viên tham gia thi Giáo viên dạy giỏi cấp  
tỉnh và được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh; Thi thiết kế bài giảng e-  
Learning cấp tỉnh: tham gia dự thi 22 bài đảm bảo theo quy định.  
2. Những thông tin cần được bảo mật- nếu có: không có.  
3. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng  
sáng kiến lần đầu: không có.  
pdf 10 trang minhvan 09/06/2024 4990
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn cấp THCS trên địa bàn huyện Nam Trà My", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_bien_phap_nang_cao_chat_luong_giao_duc_dai_tra_va_mui_n.pdf