SKKN Việc cung cấp vốn từ và sửa lại việc dùng từ
Việc cung cấp vốn từ và sửa lại cách dùng từ làm tăng khả năng sử dụng vốn từ của trẻ là việc làm hết sức quan trọng rất cần thiết và đầy ý nghĩa đối với công tác giáo dục.
phßng gi¸o dôc vµ ®µo t¹o quËn Thanh Xu©n
Tr-êng tiÓu häc NguyÔn tr·i
---------------
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Đề tài:
Việc cung cấp vốn từ và sửa lại việc dùng từ
Giáo viên : Nguyễn Thị Thi
Lớp
: 1D
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Việc cung cấp vốn từ và sửa lại cách dùng từ làm tăng khả năng sử dụng
vốn từ của trẻ là việc làm hết sức quan trọng rất cần thiết và đầy ý nghĩa đối với
công tác giáo dục.
Đối tượng tôi dạy là trẻ lớp 1, vốn hiểu biết của các em quá ít ỏi. Tất cả mọi
hoạt động học tập, vui chơi tiếp xúc với môi trường xung quanh đều là mới lạ,
trẻ luôn muốn tìm hiểu, khám phá mọi sự việc, ngoài việc truyền đạt kiến thức,
cô giáo còn làm nhiệm vụ một người mẹ chỉ bảo, dẫn dắt, giải đáp mọi thắc mắc
của trò nhỏ. Nếu như giáo viên biết chú trọng việc bồi dưỡng vốn từ cho trẻ thì
trong cuộc sống hàng ngày các em mới có đủ vốn từ để tự mình diễn đạt ý mình
muốn thể hiện. Trẻ biết dùng từ ngữ chính xác, sử dụng từ cho phù hợp với
hoàn cảnh, với từng trường hợp, là một yêu cầu rất cơ bản, có ý nghĩa quan
trọng trong việc nhận thức của học sinh.
Muốn cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ tốt cần thông qua các hoạt động
tập thể, điều kiện và môi trường sống. Các hoạt động càng phong phú thì vốn
hiểu biết càng rộng. Hình thức để tăng nhanh vốn từ tốt nhất là thông qua việc
dạy học. Trong tất cả các môn, ta cần lưu ý rèn luyện tập nói cho trẻ như: học
vần, đạo đức, kể chuyện tự nhiên xã hội… Giáo viên là người giúp cho trẻ nói
đúng, biết chọn lời hay, ý đẹp để sử dụng.
Ví dụ: Bạn của mình học còn yếu nhưng không nên chê bạn là dốt mà chỉ
động viên bạn và cho bạn nhận xét là bạn học chưa giỏi, vở bạn viết chưa
sạch…
Giáo viên cần phát hiện những hiện tượng ngôn ngữ không bình thường của
trẻ để kịp thời sửa chữa và uốn nắn.
1
Ví dụ: Bài tập Tiếng Việt tôi giao: Hãy tìm từ mới trong đó có vần em, ươi.
Nhìn chung học sinh làm bài rất tốt nhiều từ phong phú, nghĩa của từ rất hay
nhưng vẫn còn có những từ phải sửa:
Em Sơn tìm từ mới: Lem tem.
Em An: tìm từ mới Lươi bưởi, bem bem.
Những từ tương tự như vậy rất nhiều từ đúng về cấu tạo đạt yêu cầu có vần
mới (em, ươi) nhưng hoàn toàn vô nghĩa. Lúc này giáo viên phải hướng dẫn cho
trẻ tìm từ sao cho có ý nghĩa, nghĩa hay.
Với những lý do trên, nhiều năm nay trong công tác giảng dạy tôi luôn xác
định cho mình một mục đích giúp trẻ đọc thông viết thạo tiếng mẹ đẻ, biết chọn
từ tiếng mẹ đẻ những từ thật hay, thật trong sáng, dễ hiểu. Từng bước nâng cao
khả năng của trẻ ngày càng sâu rộng hơn.
II. NHỮNG VIỆC ĐÃ THỰC HIỆN:
Đối tượng tôi dạy là học sinh lớp1, khi bước vào trường tiểu học phần lớn
chưa biết đọc, biết viết. Việc bồi dưỡng từ mới vô cùng khó khăn, ở giai đoạn
đầu. Bản thân tôi đã đưa ra biện pháp giúp trẻ tìm ra những tiếng mới rất có hiệu
quả. Vấn đề tôi nêu ra ở đây chỉ xin phép được trình bày ở phạm vi hẹp trong bộ
môn dạy học vần:
Môn học vần chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Học vần âm
- Giai đoạn 2: Học phần vần
- Giai đoạn 3: Tập đọc.
1. Giai đoạn 1:
Muốn trẻ chóng biết đọc giáo viên kết hợp với cha mẹ học sinh kèm cặp
cho trẻ nhanh chóng thuộc tất cả những chữ cái. Phân biệt được nguyên âm, phụ
2
âm và thanh điệu. Biết cách ghép phụ âm với nguyên âm, thanh điệu để có được
một tiếng mới.
Để dễ dàng tìm ra tiếng mới, học theo yêu cầu, tôi hướng dẫn cho học sinh
mỗi em lập ra hai bảng:
Bảng 1: Gồm những phụ âm đơn và 5 thanh
Âm thanh
\
Bò
Cò
Dò
Đò
Gò
Hò
/
Bó
Có
.
Bọ
Cọ
?
Bỏ
Cỏ
~
B
C
D
Đ
G
H
K
L
m
n
Bo
Co
Do
Đo
Go
Ho
Bõ
Dó
Đọ
Họ
Đỏ
Gõ
mõ
lo
lò
ló
lọ
mo
no
mò
nò
mó
nó
mọ
nọ
mỏ
nỏ
p
q
r
ro
so
to
rò
sò
tò
ró
rọ
sọ
rõ
s
sỏ
tỏ
t
tó
v
vo
xo
vò
vó
xó
vọ
vỏ
võ
x
3
Bảng 2: Gồm các phụ âm ghép
Ví dụ: Nếu ta tìm tiếng mới trong đó có âm e ta sẽ được tất cả 33 tiếng mới
có nghĩa nếu đem ghép thêm 1 tiếng khác sẽ được rất nhiều từ mới:
Âm thanh
ch
\
/
.
?
~
che
the
chè
chẻ
chẽ
th
nh
nhe
khe
ghe
nhè
khè
ghè
nhé
khé
ghé
nhẹ
ghẹ
nhẽ
khẽ
kh
gh
ghẻ
trẻ
hg
ngh
tr
nghe
tre
nghè
nghé
phé
gi
ph
phe
que
phè
què
qu
quẻ
Muốn ghép tiếng giỏi, tôi hướng dẫn cho học sinh nắm chắc luật chính tả để
ghép cho đúng:
• Cặp âm: c: chỉ ghép được với o, ô, ơ, a, u, ư
k: chỉ ghép được với e, ê, i
• Cặp âm: ng: chỉ ghép được với a, o, ô, ơ, u, ư
ngh: chỉ ghép được với e, ê, i.
4
• Cặp âm: i: chỉ dùng khi ghép với phụ âm đứng trước
y: chỉ dùng khi đứng trước không có phụ âm.
Ví dụ: Chim yến
Con kiến
Khi bắt đầu tập tìm từ mới lần lượt hướng dẫn học sinh lắp ráp vào bảng đã
kẻ sẵn tìm xem tiếng nào có nghĩa thì chọn ra và ghép với một tiếng khác. Bằng
cách này học sinh tìm rất dễ, nhanh và được rất nhiều từ.
Ví dụ: Hãy tìm ra tiếng mới trong đó có âm: O. Nếu chỉ riêng ghép O với B
với 5 dấu ta được những từ sau: Bo, Bò, Bó, Bọ, Bõ, Bõ (cả 6 tiếng tìm ra đều
có nghĩa cả).
- Đối với học sinh yếu, các em chỉ dừng lại ở đây là đạt yêu cầu bài tập.
- Đối với học sinh khá giỏi thì tôi cho tìm thành từ mới. Ở giai đoạn này
học sinh chưa biết đọc, chỉ cho các em tìm miệng, cô giáo ghi hộ lên
bảng.
Ví dụ: Với từng tiếng một
Bó – Bò – Bõ – Bọ - Bỏ
Quần bò
Con bò
Bé bò
Bò
Sữa bò
Bò gạo
Bò lê bò càng
5
Bó hẹp
Bó rơm
Gắn bó
Gò bó
Bó
Bó buộc
Bó gối
Bõ công
Bõ ghét
Bõ bèn
Bõ
Bọ gập
Sâu bọ
Bọ cạp
Bọ
Bọ hung
Bọ cánh cứng
Bọ cánh cam
Bỏ rơi
Bỏ ngỏ
Bỏ dở
Bỏ
6
Được 25 từ đồng âm khác nghĩ.
Sau mỗi tiết dạy học vần, thường thường tôi bớt ra một ít phút để củng cố
bài vừa học. Làm như vậy tôi thấy học sing giỏi lên nhanh chóng. Thuộc mặt
chữ và rất hứng thú sau mỗi giờ học.
Những từ mới vừa tìm được tôi cho cả lớp đọc lại. Những từ khó hiểu tôi
giảng nghĩa ngắn gọn giúp các em vui cười rất thích thú.
Ví dụ: Các từ khó hiểu như:
- Quần bò: quần của người chăn bò (mỹ) khi mặc bó gọn, bền, trôn gkhoer
mạnh.
- Bó hẹp: bó là nén lại, hẹp là bị khống chế không được thoải mái cho lắm.
- Bò lê bò càng: là một thành ngữ chỉ bị đánh đau đến nỗi phải bò, phải lê
đi, bò càng: càng cua nó to, nặng nề khi cua bò càng của con cua kéo lê
dưới đát.
- Bõ bèn: là từ láy phụ âm đầu ý chỉ: hả hê, vừa ý.
2. Giai đoạn 2: học phần vần
Khi việc tìm ra tiếng mới đã thành kỹ năng thì sang phần vần các em tìm
ra từ mới đã thành thạo. Các em thi nhau đòi học bằng được những từ mình vừa
tìm ra, kể cả những học sinh yếu nhất cũng dễ dàng tìm được từ mới.
Qua thực tế dạy theo cách thức trên vốn từ mới được cung cấp rất phong
phú với số lượng lớn. Bình quân mỗi một vần mới học, các em tìm được từ 5
đến 10 từ mới.
Sau mỗi bài học vần việc rèn luyện tự tìm ra tiếng mới, từ mới trong đó có
vần vừa học đã thành nếp thường xuyên.
Ở giai đoạn đầu, cô viết hộ lên bảng, sang giai đoạn hai cho các em tự viết
được vào vở của mình. Tôi chỉ nêu ví dụ: tìm tiếng, từ mới trong đó có vần
“anh”. Nếu đem ghép vào bảng sẽ được ở bảng 1:
7
Âm
thanh
\
/
.
?
~
B
C
D
Đ
g
Banh
Canh
Danh
Đanh
ganh
hanh
Bành
Cành
Dành
Đành
Bánh
Cánh
Bạnh
Cạnh
Bảnh
Cảnh
Dảnh
Đảnh
Đánh
gánh
h
k
l
hành
hạnh
hãnh
lanh
manh
nanh
lành
mành
nành
lánh
lạnh
mạnh
nạnh
lãnh
m
n
p
r
mánh
lảnh
mãnh
mảnh
ranh
sanh
tanh
vanh
xanh
rành
sành
tành
vành
rãnh
vãnh
s
sánh
tánh
vánh
rảnh
sảnh
t
tạnh
v
vạnh
x
8
Ở bảng 2:
Âm
thanh
\
/
.
?
~
Ch
Th
Nh
Kh
Gh
Ng
Ngh
Tr
Chanh
Thanh
Nhanh
Khanh
Chánh
Thánh
Nhánh
Khánh
Chạnh
Chành
Thành
Nhành
Thảnh
Nhảnh
Khảnh
Ngạnh
Ngành
Tranh
Gianh
Phanh
Quanh
Tránh
quánh
Gi
Giành
phành
Ph
Qu
Quạnh
Ở bảng 1: theo cách này tìm được 55 tiếng mới, ở bảng 2 tìm được 26
tiếng mới. Nếu như ghép thành từ và tìm từ đồng âm khách nghĩa thì nhiều vô
kể. Trong phần bài tập này, lớp tôi đã có nhiều em học sinh giỏi, tìm tiếng từ
mới rất nhanh, nhiều đúng nghĩa(các em Tú, Trang, Mai, Hoa, Đào…)
Có em nghĩ ra rất nhiều từ có nghĩa và hình tượng đẹp có sức gợi cảm từ
đó giúp các em học tốt môn văn ở các lớp trên.
Ví dụ:
Em Hoàng Lan tìm từ: cảnh giác, nhanh nhanh(từ láy)
Em Diệp Anh tìm từ: đẹp tuyệt diệu, yêu tha thiết
Em Đào tìm từ: thanh danh
Em Thanh Hải: sung sức, hùng mạnh, mỉm cười, bùng cháy, tung tăng.
Em Hồng Vân: lim dim, thoang thoảng
9
Như ở trên đã nêu giai đoạn tôi bắt gặp nhiều từ còn không bình thường
cần sửa ngay cho trẻ hiểu thêm ngữ nghĩa cũng như tư tưởng , tình cảm, hướng
dẫn các em biết chọn từ hay, từ đúng nghĩa:
Ví dụ: Chỉ khảo sát qua vài ba bài học có vần ươi, em, ết
Em Bảo Châu tìm từ mới: lợn lười
Em Quang tìm từ: chem. Đầu
Em Nhật Linh tìm từ: kém tắm
Em Tiến Trung tìm từ: con lười
Em Ngọc Tú tìm từ: chết hết.
Hàng ngày sau mỗi tiết học, giờ nghỉ dưới nhiều hình thức chơi mà học,
học mà chơi, học trò lớp tôi đã tiếp nhận được nhiều vô kể từ mới. Tôi tin rằng
việc làm này rất hữu ích cho các em.
3. Giai đoạn 3: Giai đoạn tập đọc:
Chuyển sang giai đoạn tập đọc, việc tìm từ m ới cần ở mức cao hơn nữa,
ngoài việc rèn luyện đọc đúng, đọc lưu loát diễn cảm tôi hướng dẫn các em tìm
những từ đồng nghĩa.
Ví dụ: Bài tập đọc: Chuyện ở lớp(tập đọc lớp 1)
Trong bài có câu: Đứng dậy đỏ bừng tai
Tôi lấy ra từ đó: Đỏ bừng và yêu cầu các em tìm những từ đồng nghĩa với
đỏ bừng như:
Đỏ au
đỏ loe
đỏ lựng
đỏ ngầu
đỏ quạch
đỏ rực
Đỏ chóe
Đỏ đắn
đỏ khè khè
đỏ lòm
Đỏ chói
Đỏ đòng đọc
Đỏ tươi
đỏ ửng
đỏ lừ
đo đỏ
đỏ gay đỏ gắt
đỏ thẫm
Tất cả được 21 từ đồng nghĩa với đỏ bừng. Tương tự như vậy, ở các bài
tập đọc các em rất thích thú khi tìm ra được một từ mới. Những từ khó hiểu và
10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Việc cung cấp vốn từ và sửa lại việc dùng từ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_viec_cung_cap_von_tu_va_sua_lai_viec_dung_tu.doc