SKKN Rèn kỹ năng nói - Viết qua phân môn Tập làm văn Lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt

Trong những năm học gần đây, việc thực hiện đổi mới Chương trình Giáo dục Phổ thông được ngành Giáo Dục đặc biệt quan tâm và giáo viên tích cực hưởng ứng. Đặc biệt năm học 2010 – 2011 với chủ đề: “ Năm học tiếp tục đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục ”, đây là năm học thứ hai thực hiện chuẩn Kiến thức kỹ năng các môn học ở Tiểu học.
Phßng gi¸o dôc ®µo t¹o quËn Thanh Xu©n  
Tr-êng tiÓu häc NguyÔn tr·i  
--------------  
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm  
Tªn ®Ò tµi:  
RÌn kü n¨ng nãi-viÕt qua ph©n m«n tËp lµm v¨n  
líp 3, gãp phÇn n©ng cao chÊt l-îng m«n tiÕng viÖt”  
Ng-êi thùc hiÖn: Vò ThÞ HuyÒn YÕn  
Gi¸o viªn chñ nhiÖm líp 3D  
N¨m häc 2013-2014  
A. PHẦN MỞ ĐẦU  
I. Bối cảnh của đề tài:  
Trong những năm học gần đây, việc thực hiện đổi mới Chương trình Giáo dục  
Phổ thông được ngành Giáo Dục đặc biệt quan tâm và giáo viên tích cực hưởng ứng.  
Đặc biệt năm học 2010 – 2011 với chủ đề: Năm học tiếp tục đổi mới quản lí và  
nâng cao chất lượng giáo dục ”, đây năm học thứ hai thực hiện chuẩn Kiến thức  
kỹ năng các môn học ở Tiểu học.  
Để nâng cao chất lượng giáo dục, trong quá trình giảng dạy người giáo viên  
ngoài việc giúp cho học sinh có kiến thức còn rèn cho học sinh những kĩ năng: nghe  
– nói – đọc viết và tính toán. Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có vai trò nền tảng cho  
học sinh trau dồi vốn ngôn ngữ sử dụng thành thạo Tiếng Việt. vậy môn Tiếng  
Việt rèn cho hs cả bốn kĩ năng: nghe – nói đọc viết. Học sinh nói viết đoạn văn  
theo một chủ đề nào đó bước nâng cao về vốn từ, về câu, về cách xây dựng văn  
bản học sinh đã học ở các phần trước. Để nâng cao chất lượng dạy học nói chung  
và môn Tiếng Việt nói riêng, trong quá trình giảng dạy người giáo viên cần sự  
đầu tư tìm tòi học hỏi, nghiên cứu tìm ra những giải pháp tối ưu để áp dụng vào thực  
tế giảng dạy để giúp học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập, tiếp tục học tập ở các  
lớp trên.  
II. Lí do chọn đề tài.  
Môn Tiếng Việt cùng các môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh  
bốn kỹ năng: “ nghe – nói – đọc viết ”. Tập làm văn là phân môn thực hành và rèn  
luyện tổng hợp bốn kỹ năng đó, có tính chất tích hợp các phân môn khác trong môn  
Tiếng Việt. Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản nói  
hoặc viết. Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển hội.  
Chính vì vậy hướng dẫn cho học sinh nói và viết đúng hết sức cần thiết. Nhiệm vụ  
đó phụ thuộc phần lớn vào việc dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn  
nói riêng. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy Tập làm văn là phân môn khó trong  
các phân môn của môn Tiếng Việt. Bên cạnh đó, do vốn từ còn hạn chế nên học sinh  
1
- -  
còn ngại nói vì vậy tiết học chưa đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến  
hành nghiên cứu thực hiện đề tài: “Rèn kỹ năng nói – viết qua phân môn Tập  
làm văn lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt để áp dụng trong  
giảng dạy.  
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:  
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả giáo viên và  
học sinh khối lớp 3.  
Phạm vi đề tài: Do năng lực của bản thân còn hạn chế, vậy dựa trên thực tế  
về việc dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3, tôi chỉ trình bày “ Một số biện pháp  
rèn kỹ năng nói – viết qua phân môn Tập làm văn lớp 3, góp phần nâng cao chất  
lượng môn Tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng học tập, giúp học sinh học tốt  
các môn học khác trong chương trình giáo dục bậc Tiểu học.  
IV. Mục đích nghiên cứu:  
Đề tài nhằm trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong công tác chuyên  
môn. Giúp giáo viên từng bước nâng cao hiệu quả trong giảng dạy phân môn Tập  
làm văn, rèn cho hs kĩ năng nói – viết đoạn văn giàu hình ảnh. Từ đó góp phần nâng  
cao chất lượng môn Tiếng Việt.  
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:  
Việc nghiên cứu để xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này đã tiến hành  
trong thời gian dài, được bản thân rút kinh nghiệm qua quá trình giảng dạy các môn  
học, đặc biệt là phân môn Tập làm văn. Những kinh nghiệm tích luỹ được trong  
giảng dạy trong đó sự tiến bộ của học sinh phân môn Tập làm văn, được giáo  
viên ghi chép vào nhật dạy học. Những kết quả giảng dạy được bản thân thường  
xuyên cập nhật để so sánh, rút kinh nghiệm vào từng thời điểm trong năm học và so  
sánh kết quả với những năm học trước. Từ đó đề ra những biện pháp để giảng dạy  
đạt kết qucao hơn.  
2
- -  
B. PHẦN NỘI DUNG  
I. Cơ sở luận:  
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, sự phát triển Công nghiệp hoá – hiện đại  
hoá đất nước cần phải những con người năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường.  
Nhu cầu này đòi hỏi phải sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung Chương trình bậc Tiểu  
học một cách phù hợp.  
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặt ra là: “ giúp học sinh hình thành những cơ  
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm  
mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở ”.  
Tập làm văn một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn Tiếng  
Việt. Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng hợp từ  
nhiều phân môn trong môn Tiếng Việt. Để làm được một bài văn không những học  
sinh phải sử dụng cả bốn kỹ năng: nghe – nói đọc viết mà còn phải vận dụng các  
kỹ năng về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn.  
Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh tạo lập văn bản, góp phần dạy học  
sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt. vậy Tập làm văn là phân môn  
có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác.  
Trong quá trình dạy một tiết Tập làm văn, để đạt mục tiêu đề ra ngoài phương  
pháp của thầy, học sinh cần phải vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế. Học  
tốt Tập làm văn sẽ giúp học sinh học tốt các môn học khác đồng thời giáo dục các  
em những tình cảm lành mạnh, trong sáng; rèn luỵên khả năng giao tiếp và góp phần  
đắc lực vào việc giữ gìn, phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt, hình thành nhân  
cách con người Việt Nam.  
II. Thực trạng:  
1.Thuận lợi:  
-Giáo viên:  
Trong việc thực hiện đổi mới Chương trình sách giáo khoa bậc Tiểu học, do  
đặc trưng phân môn Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho  
học sinh khả năng trình bày văn bản nói – viết ở nhiều thể loại khác nhau. Vì vậy,  
3
- -  
giáo viên luôn không ngừng học hỏi, cải tiến phương pháp dạy học phù hợp mục tiêu  
dạy học để dẫn dắt rèn luyện học sinh thực hành những bài văn nói – viết một  
cách độc lập, sáng tạo.  
Giáo viên luôn ý thức quan tâm, chăm chút học sinh trong từng tiết học. Với  
mỗi loại bài tập, giáo viên đã nghiên cứu kĩ kế hoạch bài dạy để lựa chọn tổ chức  
những hình thức luyện tập sao cho phù hợp với đối tượng học sinh. Bên cạnh đó,  
giáo viên luôn động viên khuyến khích, khơi gợi ở học sinh trí tưởng tượng, óc sáng  
tạo. Từ đó kích thích được sự tìm tòi ham học hỏi ở học sinh, hình thành thói quen  
học tập tốt phân môn Tập làm văn.  
Để giúp học sinh viết được những bài văn hay, ý tưởng phong phú, sáng tạo  
giáo viên luôn chú trọng rèn kĩ năng nói cho học sinh vì học sinh nói tốt sẽ trình bày  
bài viết tốt.  
Qua các phương tiện thông tin đại chúng: xem đài, đọc sách báo, tài liệu…  
giáo viên thường xuyên được tiếp cận với việc đổi mới phương pháp.  
- Học sinh:  
Ở lứa tuổi học sinh lớp ba, các em rất ham tìm tòi học hỏi.  
Nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn  
nói riêng rất phong phú; kênh hình Sách giáo khoa được trình bày đẹp, phù hợp tâm  
sinh lí lứa tuổi các em.  
Học sinh đã nắm vững kiến thức, kĩ năng tạo lập văn bản, kể chuyện, miêu tả  
từ các lớp dưới. Đây cơ sở giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn lớp ba.  
2.Khó khăn:  
Tập làm văn là phân môn khó so với các phân môn khác của môn Tiếng Việt,  
vậy việc dạy học ở phân môn này có những hạn chế nhất định.  
Trong việc rèn kĩ năng nói – viết cho học sinh, giáo viên có đầu tư nghiên cứu  
mục tiêu các tiết dạy để lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao  
cho phù hợp từng đối tượng học sinh, nhưng sự đầu tư chưa sâu nên hiệu quả dạy  
học phân môn Tập làm văn chưa cao. Một số bài trong chương trình đề ra chưa gần  
gũi với học sinh như: Lễ hội, tin thể thao…Dụng cụ trực quan thiếu, giáo viên chỉ  
4
- -  
nói suông nên học sinh không hiểu, không nắm bắt được thông tin vì vậy bài làm  
không đạt hiệu quả cao.  
Chất lượng phân môn Tập làm văn đầu năm rất thấp, học sinh chưa biết viết  
đoạn văn có ý tưởng phong phú, sáng tạo chỉ biết trả lời theo câu hỏi gợi ý. Đấy  
vấn đề nan giải đòi hỏi giáo viên phải biện pháp thích hợp để từng bước giảng  
dạy đạt kết quả.  
III. Các biện pháp để rèn kĩ năng nói – viết đạt hiệu quả trong phân môn Tập  
làm văn lớp ba:  
1. Trang bị kiến thức cho học sinh luôn chú trọng việc lồng ghép kiến thức  
giữa các phân môn Tiếng Việt:  
Với thể loại nói – viết trong phân môn Tập làm văn lớp 3, học sinh được rèn  
luyện kĩ năng nói dựa trên những gợi ý sách giáo khoa và viết một đoạn văn ngắn  
khoảng 5 đến 6 câu với các chủ đề: nói về quê hương, gia đình, người lao động, kể  
vể lễ hội, trận thi đấu thể thao, bảo vệ môi trường…  
Do khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, óc quan sát, trí tưởng tượng  
không phong phú lại chưa chịu khó rèn luyện, nên đa số các em chỉ biết trình bày  
đoạn văn một cách hạn hẹp theo nội dung đã gợi ý. Từ đó bài văn nói – viết nghèo  
nàn về ý, gò ép, thiếu sự hồn nhiên. Ví dụ “Kể lại việc em đã làm để bảo vệ môi  
trường”, các em chỉ kể “ trên đường đi học, em thấy một cây xanh còn non bị ngã,  
em đỡ cho cây đứng dậy. Trưa tan học về thấy cây xanh tốt, em rất vui mừng đã  
bảo vệ môi trường”. Bên cạnh đó, đôi lúc các em còn trình bày lệch lạc, thiếu chính  
xác do ít kiến thức về vốn sống.  
Việc sử dụng mở rộng vốn từ còn nhiều hạn chế, các em chưa chú ý cách  
sử dụng từ hoặc trau chuốt thế nào cho từ đó hay hơn trong câu văn. một số tdo  
được nghe và nói trong sinh hoạt hằng ngày thành quen thuộc, các em vẫn tư sử  
dụng trong bài văn của mình.  
Như vậy, để khắc phục những hạn chế trên, giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp  
kiến thức giữa các phân môn Tiếng Việt để từ đó giúp các em trang bị vốn kiến thức  
cơ bản cần thiết cho mỗi tiết học. Khi dạy các phân môn: Tập đọc, Chính tả, Tập viết  
Luyện từ và câu có nội dung phù hợp tiết Tập làm văn sắp học; giáo viên cần dặn dò  
5
- -  
hướng dẫn học sinh quan sát tìm hiểu kĩ đối tượng cần nói đến và ghi chép cụ thể  
hình ảnh, hoạt động ấy vào sổ tay; với những sự việc hoặc hoạt động các em không  
được chứng kiến hoặc tham gia, giáo viên khuyến khích các em quan sát qua tranh  
ảnh, sách báo, trên tivi,…hoặc hỏi những người thân hay trao đổi với bạn bè. Khi  
được trang bị những kiến thức cơ bản như thế, học sinh sẽ những ý tưởng độc lập  
từ đó các em có thể trình bày được bài văn chân thực, sinh động và sáng tạo. Trong  
việc trang bị kiến thức cho học sinh, giáo viên không nên áp đặt các em vào một  
khuôn mẫu nhất định như chỉ định học sinh phải quan sát một bức tranh, một sự vật,  
con người hay một công việc cụ thể như thế sẽ hạn chế năng lực sáng tạo của các  
em. Vì vậy, với bất cứ một đề tài nào của một tiết Tập làm văn, giáo viên cần cho  
học sinh liên hệ mở rộng để các em phát huy được năng lực sáng tạo trong bài văn  
của mình.  
2. Tìm hiểu nội dung đề bài:  
2.1 Xác định rõ yêu cầu các bài tập:  
Ở mỗi đtài của loại bài Tập làm văn nói – viết, giáo viên cần cho học sinh tự  
xác định rõ yêu cầu các bài tập. Giúp học sinh tự xác định đúng yêu cầu bài tập để  
khi thực hành các em sẽ không chệch hướng, đảm bảo đúng nội dung đề tài cần  
luyện tập.  
2.2 Nắm vững hệ thống câu hỏi gợi ý:  
Sách giáo khoa lớp 3, bài Tập làm văn nói – viết thường có câu hỏi gợi ý, các  
câu hỏi này sắp xếp hợp như một dàn bài của một bài Tập làm văn; học sinh dựa  
vào gợi ý để luyện nói, sau đó viết thành một đoạn văn ngắn. Giáo viên cần cho học  
sinh đọc toàn bộ các câu gợi ý để hiểu rõ và nắm vững nội dung từng câu; từ đó giúp  
các em trình bày đoạn văn rõ ràng, mạch lạc đủ ý, đúng từ, đúng ngữ pháp. Giúp học  
sinh nắm vững nội dung từng câu hỏi gợi ý sẽ hạn chế được việc trình bày ý trùng  
lặp, chồng chéo, không có sự liên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn.  
2.3 Tìm hiểu các câu gợi ý:  
Trước khi học sinh thực hành bài tập luyện nói, giáo viên cần giúp các em  
hiểu nghĩa của các từ ngữ có trong câu hỏi để học sinh hiểu và trình bày đúng yêu  
cầu, các từ ngữ này có thể là các từ khó hoặc từ địa phương. Nếu từ địa phương,  
6
- -  
giáo viên có thể cho học sinh sử dụng từ địa phương mình để học sinh làm bài dễ  
dàng hơn.  
2.4 Chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ:  
Trong các câu gợi ý có một số câu dài hoặc ngắn gọn khiến học sinh lúng túng  
khi diễn đạt ý, do đó ý không trọn vẹn, bài văn thiếu sinh động sáng tạo. Giáo viên  
cần chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ để giúp các em những ý tưởng phong phú, hồn  
nhiên. Việc chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ sẽ nhiều học sinh được rèn kĩ năng  
nói, giúp các em thêm tự tin và giáo viên dễ dàng sửa chữa sai sót cho học sinh.  
Như vậy qua hệ thống câu hỏi, giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tình cảm, ý  
kiến nhận xét đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học. Song song với quá  
trình đó giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câu trả lời của bạn để học  
sinh rút ra được những câu trả lời đúng cách ứng xử hay.Từ đó giúp học sinh mở  
rộng vốn từ, rèn lối diễn đạt mạch lạc, lôgíc, câu văn có hình ảnh cảm xúc. Trên  
cơ sở đó bài luyện nói của các em sẽ trôi chảy, sinh động, giàu cảm xúc đồng thời  
hình thành cho các em cách ứng xử linh hoạt trong cuộc sống.  
3. Hướng dẫn tìm ý:  
Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi nên đa số bài văn của học sinh lớp 3 có ý tưởng  
chưa phong phú, sáng tạo, các em thường trình bày hạn hẹp trong khuôn khổ nhất  
định. Giáo viên cần giúp các em tìm ý để thực hành một bài văn nói – viết hoàn  
chỉnh về nội dung với những ý tuởng trong sáng giàu hình ảnh và ngây thơ chân thật.  
Để thực hiện được điều đó, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh một cách chặt chẽ từ sự  
liên tưởng về các sự vật, các hoạt động. Từ đó học sinh dễ dàng tìm ý và diễn đạt bài  
văn rõ ràng, mạch lạc hơn. Trong một tiết Tập làm văn với một đề tài nào đó, học  
sinh có thể quên một số hình ảnh, sự việc…các em đã quan sát hoặc tìm hiểu qua  
thực tế. Giáo viên khơi gợi cho học sinh nhớ lại bằng những câu hỏi nhỏ có liên  
quan đến yêu cầu bài tập, phù hợp thực tế và trình độ học sinh để các em dễ dàng  
diễn đạt. Nếu trong một bài Tập làm văn, học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng  
những đã quan sát; hoặc thực hành một cách chính xác theo các gợi ý; bài làm  
như thế tuy đủ ý nhưng không có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe. Vì  
vậy, với từng đề bài giáo viên nên có những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh  
7
- -  
liên tưởng, tưởng tượng thêm những chi tiết một cách tự nhiên, chân thật hợp lí  
qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày  
bài văn giàu hình ảnh, sinh động, sáng tạo.  
4. Hướng dẫn diễn đạt:  
Như đã nói, do tâm lí lứa tuổi nên bài văn thực hành của học sinh lớp Ba tuy  
có ý tưởng, nhưng vẫn còn nhiều sai sót về diễn đạt như: dùng từ chưa chính xác, ý  
trùng lắp, các ý trong đoạn văn chưa liên kết nhau nên trình bày chưa rõ ràng mạch  
lạc. vậy, khi học sinh trình bày, giáo viên phải hết sức chú ý lắng nghe, ghi nhận  
những ý tưởng hay, ý có sáng tạo của học sinh để khen ngợi; đồng thời phát hiện  
những sai sót để sửa chữa. Giáo viên cần đặt ra tiêu chí nhận xét thật cụ thể để học  
sinh làm cơ sở lắng nghe bạn trình bày; phát hiện những từ, ý, câu hay của bạn để  
học hỏi những hạn chế của bạn để góp ý, sửa sai.  
4.1 Hướng dẫn sửa chữa từ:  
Trường hợp học sinh dùng từ chưa chính xác như các từ ngữ chưa phù hợp,  
nghĩa từ chưa hay hoặc từ thông dụng địa phương…ví dụ: ‘thầy em rất chăm chỉ  
trong giảng dạy ”, “ cô em thường bận đồ xanh ”… khi học sinh phát hiện sai sót đó,  
giáo viên giúp các em sửa chữa thay đổi từ phù hợp. Đối với từ học sinh dùng trùng  
lặp nhiều lần trong một câu, ví dụ: “Bác ba là người hàng xóm của em, bác ba rất tốt  
với em, bác ba luôn giúp em học bài…”, giáo viên hướng dẫn học sinh lượt bớt từ  
hoặc dùng từ phù hợp để thay thế. Trong trình bày bài văn, học sinh vẫn thường  
dùng từ ngôn ngữ nói, giáo viên nên hướng dẫn học sinh thay thế bằng từ ngôn ngữ  
viết trong sáng hơn.  
4.2 Hướng dẫn sửa chữa đặt câu:  
Học sinh nói viết câu chưa hay chưa đủ ý, giáo viên cần hướng dẫn học sinh  
sửa chữa bsung ý vào cho đúng; câu dài dòng ý chưa rõ ràng mạch lạc cần cho học  
sinh sửa sai lượt bỏ ý ý trùng lắp. Giáo viên khuyến khích học sinh tự sửa câu  
văn chưa hay của mình bằng những câu văn hay của bạn.  
4.3 Hướng dẫn sửa chữa đoạn văn:  
Với mỗi chủ đề của bài Tập làm văn nếu học sinh trình bày đủ nội dung theo  
gợi ý đã cho thì bài văn của các em xem như hoàn chỉnh. Nhưng để một đoạn văn  
8
- -  
mạch lạc rõ ràng, ý tưởng liên kết chặt chẽ nhau thu hút được người đọc; giáo viên  
cần giúp các em biết viết đoạn văn mở kết đoạn, biết dùng từ liên kết câu,  
dùng câu liên kết đoạn một cách hợp lí và sáng tạo. dụ với gợi ý kể về trận thi  
đấu thể thao, từng gợi ý phần mở đoạn rời rạc, giáo viên có thể hướng dẫn học  
sinh liên kết các ý với nhau, khi kể không theo trình tự từng ý nhưng vẫn đảm bảo  
nội dung và làm cho phần mở đoạn sinh động lôi cuốn người đọc hơn. Hoặc hướng  
dẫn học sinh dùng những câu mở đầu đoạn văn để nói hoặc kể một cách sáng tạo.  
Khi kể về một việc làm một hoạt động nào đó, giáo viên cần khuyến khích  
học sinh sử dụng những từ liên kết câu thể hiện trình tự diễn biến của sự việc như:  
“đầu tiên”; “kế tiếp”; “sau đó”; “cuối cùng”… để đoạn văn gắn kết chặt chẽ liên tục  
từng ý với nhau. Do đặt điểm lứa tuổi và trình độ từng đối tượng học sinh không  
đồng đều nhau nên các em chưa hiểu nhiều về từ, câu liên kết trong đoạn văn viết; vì  
vậy giáo viên cần hướng dẫn bằng những gợi ý giản đơn dễ hiểu, thể cho học sinh  
khá giỏi làm mẫu để giúp các em trình bày tốt hơn đoạn văn viết của mình. Trong  
việc hướng dẫn học sinh sửa chữa bài viết, giáo viên cần đưa ra tiêu chí đánh giá cụ  
thể giúp học sinh phát hiện những đoạn văn hay, ý tưởng phong phú sáng tạo đồng  
thời phát hiện những hạn chế còn vấp phải trong bài viết. Từ đó học sinh có sự suy  
nghĩ để sửa chữa cách diễn đạt ý tưởng trong bài viết của mình một cách hợp lí và  
sáng tạo.  
IV. Hiệu quả:  
Qua quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, việc dạy học phân môn Tập làm  
văn ở lớp chủ nhiệm đạt được kết quả khả quan: Học sinh mạnh dạn tự tin hơn trong  
học tập, vốn từ của học sinh phong phú hơn, câu văn rõ ràng mạch lạc và giàu hình  
ảnh.  
9
- -  
C. PHẦN KẾT LUẬN  
I. Một số bài học kinh nghiệm:  
Từ những kết quả nêu trên, bản thân rút ra được những bài học kinh nghiệm:  
Dạy học Tập làm văn theo phương pháp tích hợp các phân môn trong môn  
Tiếng Việt. Biết kết hợp mối quan hệ chặt chẽ về yêu cầu kiến thức phân môn Tập  
làm văn của các khối lớp.Trong giảng dạy giáo viên có đầu tư nghiên cứu sâu, phối  
hợp tổ chức linh hoạt các hình thức phương pháp dạy học theo hướng đổi mới.  
Giáo viên có ý thức tự học tự rèn; tham khảo các tài liệu, tạp chí, văn bản có  
liên quan đến chuyên môn và các dạng bài khó. Giáo viên dành thời gian bồi dưỡng  
phụ đạo cho học sinh môn Tiếng Việt. Động viên, khuyến khích học sinh tự học,  
tự tìm tòi; tận tâm sửa chữa sai sót cho học sinh, hướng dẫn học sinh ghi chép vào sổ  
tay vở nháp. Học sinh có thói quen đọc sách báo, truyện phù hợp lứa tuổi, tập ghi  
chép sổ tay những từ ngữ, câu văn hay các em đọc được. Học sinh tự tin, mạnh dạn  
phát biểu trong các hoạt động học tập, kĩ năng trong giao tiếp ứng xử.  
II. Ý nghĩa của đtài:  
Đề tài là cơ sở để giáo viên nghiên cứu thực hiện trong giảng dạy phân  
môn Tập làm văn. Giúp giáo viên từng lúc san bằng trình độ học sinh trong lớp học;  
giúp học sinh tự tin hơn trong học tập, trong giao tiếp để các em hoàn thành nhiệm  
vụ học tập tiếp tục học tập ở các lớp cao hơn.  
III. Khả năng ứng dụng triển khai:  
Đề tài đang trong quá trình nghiên cứu thực hiện bước đầu hiệu quả khả  
quan. Vì vậy đề tài có khả năng ứng dụng triển khai cho tất cả giáo viên trong  
đơn vị cùng thực hiện từng lúc bổ sung để việc dạy học phân môn Tập làm văn  
lớp Ba đạt hiệu quả cao.  
IV. Những kiến nghị, đề xuất:  
Phòng Giáo Dục & Đào Tạo, cụm chuyên môn thường xuyên tổ chức các  
chuyên đề Tập làm văn theo từng chủ đcho giáo viên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm  
lẫn nhau.  
Nội, ngày 4 tháng 4 năm 2014  
Người viết  
Vũ Thị Huyền Yến  
10  
- -  

Tải về để xem bản đầy đủ

doc 12 trang minhvan 16/01/2025 490
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Rèn kỹ năng nói - Viết qua phân môn Tập làm văn Lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_ren_ky_nang_noi_viet_qua_phan_mon_tap_lam_van_lop_3_gop.doc