SKKN Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 qua phân môn Tập đọc

Dạy cho học sinh lớp 1 đọc thông là dạy cho học sinh biết đọc trơn liên từ, cụm từ, câu, biết ngắt nghỉ hơi đúng chỗ. Hiểu theo nghĩa các từ thông dụng, biết diễn đạt ý trong câu. Như vậy khi dạy Tập đọc cho học sinh lớp 1 thì việc
rèn đọc đúng cho các em là cơ bản nó vừa có ý nghĩa rèn luyện về ngôn ngữ vừa có ý nghĩa bồi dưỡng về văn học.
MỤC LỤC  
TIÊU ĐỀ  
TRANG  
2
2
A. PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
2. Mục đích nghiên cứu  
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
3
3
5. Phạm vi nghiên cứu  
4
6. Phương pháp nghiên cứu  
4
5
B. NỘI DUNG  
5
5
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG  
1. Cơ sở của vấn đề nghiên cứu  
1.1. Cơ sở khoa học  
5
1.2. Làm rõ một số nội dung, khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài  
1.3. Tìm hiểu về phân môn Tập đọc ở lớp 1  
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG DẠY HỌC  
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu  
2.1. Thực trạng chung của vấn đề nghiên cứu  
2.1.1. Khảo sát nội dung chương trình SGK - Tiếng Việt 1 - Tập 2  
2.1.2. Yêu cầu về kỹ năng đọc  
5
6
8
8
8
8
8
2.1.3. Nhiệm vụ của mỗi tiết dạy Tập đọc  
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu  
2.2.1. Thuận lợi  
2.2.2. Khó khăn  
CHƢƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN  
3. Biện pháp tiến hành  
9
11  
11  
11  
13  
13  
13  
13  
15  
23  
24  
25  
3.1. Đề xuất một số biện pháp  
3.1.1: Biện pháp thứ nhất: Dạy linh hoạt các phương pháp trong giờ Tập đọc:  
3.1.2. Biện pháp thứ hai: Hướng dẫn học sinh luyện đọc trong giờ Tập đọc  
3.1.3: Biện pháp thứ ba: Nghỉ giải lao giữa giờ Tập đọc  
3.1.4: Biện pháp thứ tư: Ôn các vần đã học qua tiết Tập đọc:  
3.1.5: Biện pháp thứ năm: Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi một cách phù  
hợp  
3.1.6: Biện pháp thứ sáu: Rèn đọc cho học sinh trong các giờ học khác  
3.2: Khái quát hoá các giải pháp đã nêu  
3.3. Kết quả thực nghiệm khoa học  
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
1. Kết luận chung  
26  
28  
29  
30  
30  
30  
32  
2. Ý kiến khuyến nghị  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
33  
33  
PHỤ LỤC  
Giáo án minh họa bài : “Bàn tay mẹ”  
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Như cng ta đã biết trong nhà trường Tiểu học ở Việt Nam đã coi  
Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng các môn học khác. Môn  
Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng, đó là hình thành  
4 kỹ năng: Nghe - nói - đọc - viết cho học sinh. Tập đọc là một phân môn của  
chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học. Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trong  
chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng đọc, một kỹ  
năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học. Kỹ năng đọc có nhiều  
mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (hiểu được nội  
dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Khi học  
sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách  
chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng lực giao tiếp của mình.  
Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có. Nhà trường phải từng bước hình  
thành và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên. Nên việc dạy  
học phải có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp 5. Ở lớp 1 để củng cố  
chắc chắn kỹ năng đọc tiến tới đọc thông, đọc hiểu (ở mức đơn giản) thì phân  
môn Tập đọc trong phần Luyện tập tổng hợp chiếm vai trò hết sức quan trọng.  
Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 là lứa tuổi đang chuyển từ hoạt động chủ  
đạo là vui chơi sang học tập. Đây là một việc rất khó khăn đối với trẻ, một trong  
những khó khăn nhất là việc học chữ. Trong chương trình dạy Tiếng Vệt lớp 1  
đó là dạy theo một hệ thống âm - vần - thanh, sau đó ghép chúng lại thành tiếng,  
từ và tiến tới đọc thông viết thạo.  
Dạy cho học sinh lớp 1 đọc thông là dạy cho học sinh biết đọc trơn liên từ,  
cụm từ, câu, biết ngắt nghỉ hơi đúng chỗ. Hiểu theo nghĩa các từ thông dụng,  
biết diễn đạt ý trong câu. Như vậy khi dạy Tập đọc cho học sinh lớp 1 thì việc  
rèn đọc đúng cho các em là cơ bản nó vừa có ý nghĩa rèn luyện về ngôn ngữ vừa  
có ý nghĩa bồi dưỡng về văn học.  
Việc dạy đọc cho các em thật vô cùng quan trọng, bởi các em có đọc tốt  
được ở lớp 1 thì khi học các lớp tiếp theo, các em mới nắm bắt được những yêu  
cầu cao hơn của môn Tiếng Việt. Đọc đúng học sinh sẽ có cơ sở hiểu đúng, viết  
đúng. Đọc đúng còn giúp cho người khác hiểu bài các em đọc. Đọc đúng còn  
giúp các em trong học tập môn khác, hiện nay cũng như trong sinh hoạt và công  
tác sau này khi các em lớn lên.Vì vậy kĩ năng đọc được xem là một tiêu chí đánh  
giá chất lượng học tập của học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói  
riêng. Nhưng trước hết là vấn đề kĩ năng, không phải cứ biết chữ là học sinh nào  
cũng có thể đọc đúng. Muốn đọc đúng thì các em phải luyện đọc theo đúng qui  
tắc hướng dẫn. Đó là vấn đề luôn đặt ra cho người giáo viên.  
2
Xuất phát từ vấn đề trên là giáo viên dạy lớp 1 với sự nỗ lực phấn đấu của  
bản thân trong giảng dạy và việc học tập tìm hiểu kinh nghiệm của đồng nghiệp  
trong tổ đã nhiều năm dạy lớp 1. Tôi mạnh dạn trình bày áp dụng sáng kiến  
Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 qua phân môn Tập đọc .  
2. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong  
từ, trong câu, đọc đúng ngữ điệu, biết cách ngắt nghỉ hơi trong văn bản thơ,  
cũng như văn bản văn xuôi. Mục đích của đề tài đưa ra phương pháp và các hình  
thức tổ chức dạy học về phân môn Tập đọc một cách tốt nhất để giúp học sinh  
trong quá trình học đạt hiệu quả cao để tạo hứng thú với các em trong giờ học  
giúp các em chú ý nghe giảng, hăng hái giơ tay phát biểu ý kiến xây dựng bài.  
Tạo cho các em ý thức tự giác đọc bài, biết đọc hiểu và trả lời các câu hỏi  
về nội dung bài đọc ở trên lớp. Có thái độ tích cực trong việc tự đọc và tìm hiểu  
bài đọc trước ở nhà.  
Tìm hiểu một số biện pháp mới trong quá trình giảng dạy về phân môn  
Tập đọc.  
Tìm hiểu sự hứng thú và hiệu quả đạt được khi dạy phân môn Tập đọc ở  
lớp 1 mà học sinh lĩnh hội được.  
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu  
Giáo viên dạy lớp 1. Học sinh lớp 1 - Trường Tiểu học Đặng Trần Côn và  
trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc.  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Tập đọc là phân môn thực hành vì vậy nhiệm vụ của nó chính là hình  
thành kĩ năng đọc cho học sinh. Kĩ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc  
nhanh. Dạy đọc giáo dục lòng ham đọc sách cho học sinh giúp các em thấy được  
đây chính là con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ phát  
triển. Tập đọc góp phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ, bồi dưỡng cho học  
sinh lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em các cách tư duy có hình ảnh.  
Dạy tập đọc lớp 1 ở đây chính là bước chuyển tiếp từ dạy “Học vần” sang “Tập  
đọc” giờ Tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương pháp Học vần, cả phương pháp  
Tập đọc. Yêu cầu của giờ Tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã học  
(nhất là các vần khó) đọc đúng tiếng, liền tiếng trong từ, trong câu đoạn, bài.  
Bước đầu biết cách ngắt hơi ở dấu câu, biết lên giọng và hạ giọng.  
Như vậy với tư cách, nhiệm vụ là một phân môn thực hành Tiếng Việt,  
đọc đúng góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển năng lực cho  
học sinh. Những bài Tập đọc trong chương trình sách giáo khoa lớp 1 là những  
bài văn, bài thơ hay trong kho tàng văn học trong nước và nước ngoài. Chính vì  
thế mà các em vốn văn học dân tộc. Cũng như các môn học khác ở các cấp  
học, phân môn Tập đọc đòi hỏi giáo viên phải đổi mới phương pháp: lấy học  
sinh làm trung tâm, học sinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình học tập. Tự tìm  
3
tòi để hiểu nội dung, phát hiện kiến thức dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của người  
thầy. Với những yêu cầu quan trọng như vậy thì người thầy phải là người tổ  
chức linh hoạt chuẩn bị được nhiều tình huống phong phú cho học sinh. Để làm  
tốt được những nhiệm vụ nêu trên, đề tài của tôi mục đích đưa ra một số biện  
pháp để giúp học sinh đọc thông được văn bản và đọc đúng ngữ điệu nói chung,  
ngắt giọng đúng nói riêng nhằm nâng cao chất lượng của một giờ dạy Tập đọc ở  
lớp Một.  
5. Phạm vi nghiên cứu  
Trong phạm vi trường Tiểu học. Thời gian nghiên cứu: 2 năm học. Năm  
học 2017 - 2018; 2018 - 2019.  
6. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Để đạt được mục đích rèn kỹ năng đọc cho học sinh tôi đã sử dụng một số  
phương pháp sau:  
- Phương pháp thực hành.  
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phỏng vấn và trao đổi trực tiếp học  
sinh, giáo viên dùng phiếu thăm dò.  
- Dạy thực nghiệm  
- Phương pháp quan sát  
- Kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm  
- Phương pháp thu nhập tài liệu, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến  
đề tài, tìm hiểu sách giáo khoa Tiếng Việt 1, sách giáo viên.  
- Phương pháp trao đổi và toạ đàm với đồng nghiệp.  
Để minh hoạ cho các giải pháp và các phương pháp đã nêu ở trên tôi đã  
chọn và dạy một bài trong chương trình lớp 1- Bài: Bàn tay mẹ  
4
B. NỘI DUNG  
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG  
1. Cơ sở của vấn đề nghiên cứu  
1.1. Cơ sở khoa học  
Trong chương trình Tiểu học, các bài tập đọc của lớp 1 đã được chọn lọc  
kĩ càng. Được sắp xếp theo từng chủ đề, nội dung các bài tập đọc cung cấp, bồi  
dưỡng cho các em lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu người lao động, yêu  
người thân xung quanh các em.  
Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học.  
Đây là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình, vì nó đảm  
nhiệm việc hình thành và phát triển cho kĩ năng “đọc” nói chung và “đọc đúng”  
nói riêng. Một kĩ năng quan trọng hàng đầu của bậc Tiểu học. Tập đọc là môn  
học công cụ, là chìa khoá, là phương tiện để học sinh tiếp nhận tri thức loài  
người. Tập đọc giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp tinh tế của nghệ thuật  
ngôn từ.  
Tập đọc, đặc biệt là đọc đúng giúp các em học được cách nói, cách viết  
một cách chính xác, trong sáng có nghệ thuật, góp phần không nhỏ vào việc rèn  
luyện kĩ năng đọc mà còn phát triển cho học sinh vốn từ ngữ Tiếng Việt phong  
phú. Từ đó, các em sẽ học tốt các môn học khác, bởi đọc đúng được chính xác  
nội dung một vấn đề nào đó. Từ đó, các em sẽ làm Toán đúng, viết đúng và nói  
đúng, ... Trong chương trình Tiểu học, các bài tập đọc của lớp 1 đã được chọn  
lọc kĩ càng. Được sắp xếp theo từng chủ đề, nội dung các bài tập đọc cung cấp,  
bồi dưỡng cho các em lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu người lao động,  
yêu người thân,...ở xung quanh các em.  
1.2. Làm rõ một số nội dung, khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài  
Quá trình tìm hiểu thực tế, nhìn chung mỗi giờ Tập đọc đều có 2 phần lớn  
tìm hiểu nội dung bài và luyện đọc, hai phần này có thể tiến hành cùng một lúc,  
đen xen vào nhau, cũng có thể tách rời nhau tùy từng bài và từng giáo viên.  
Song dù dạy theo cách nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ tương trợ,  
khăng khít. Phần tìm hiểu bài giúp học sinh tìm hiểu bài giúp học sinh tìm hiểu  
kĩ nội dung nghệ thuật của từng bài, từ đó học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt.  
Ngược lại đọc diễn cảm thể hiện nội dung bài, thể hiện được những hiểu biết của  
mình xung quanh bài học.  
Như vậy phần luyện đọc có vai trò quan trọng, học sinh đọc tốt sẽ giúp  
các em hoàn thành được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản thân  
mình. Đọc tốt giúp các em hiểu biết tiếp thu được văn minh của loài người, bồi  
dưỡng tâm hồn tình cảm, phát triển tư duy. Bên cạnh các yếu tố trên trong giảng  
dạy phân môn Tập đọc giáo viên còn phải chú ý đến một số nguyên tắc phát  
triển lời nói (nguyên tắc thực hành). Điều này được thể hiện rõ hơn ở phần luyện  
5
đọc, ở phần này học sinh được rèn luyện về cách phát âm, cách nghỉ hơi đúng  
chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu. Để giờ học đạt kết quả cao hơn thì phải đảm bảo  
nguyên tắc phát triển tư duy, phát huy tính tích cực, năng lực của học sinh. Do  
vậy phần luyện đọc giáo viên cần gợi mở, hướng dẫn học sinh tự phát hiện  
những chỗ cần ngắt giọng, hạ giọng những câu thơ, những câu văn trong bài từ  
đó tìm ra cách đọc hay hơn. Nghiên cứu để nâng cao nhận thức, phải nắm rõ  
thuận lợi, khó khăn trong việc dạy và cách thức tiến hành nhằm nâng cao việc  
học, tiếp thu nội dung bài ở học sinh.  
1.3. Tìm hiểu về phân môn Tập đọc ở lớp 1  
- Cấu trúc chung: Chương trình Tiếng Việt lớp 1- phân môn Tập đọc thời  
lượng chiếm 3 / 5 so với các phân môn còn lại kéo dài từ tuần 25 đến hết tuần 35  
(có 10 tuần dạy Tập đọc, mỗi tuần có 3 bài, mỗi bài dạy trong 2 tiết: “6 / 10 tiết /  
1 tuần” ) .  
- Nội dung: Các bài tập đọc xoay quanh 3 chủ điểm: Nhà trường; Gia đình;  
Thiên nhiên đất nước.  
- Bài tập đọc lớp 1 gồm các phần:  
+ Văn bản đọc  
+ Những tiếng, từ khó cần lưu ý  
+ Các câu hỏi (bài tập) để ôn luyện âm, vần  
+ Luyện nói: nói về một vấn đề hoặc nhìn tranh để diễn đạt.  
Như vậy nội dung các bài tập đọc ở lớp 1 cung cấp lượng kiến thức về  
cuộc sống xung quanh cho học sinh. Rèn kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm.  
Luyện kĩ năng ghi nhớ nội dung văn bản chuyển từ học âm - vần sang  
Tập đọc, học sinh được luyện mức độ cao hơn trước rất nhiều như luyện đọc  
trơn lưu loát bài thơ hay bài văn. Thi đọc cá nhân, nhóm, tổ. Học thuộc lòng bài  
thơ. Biết tìm từ, nói câu có chứa vần ôn tập. Tìm hiểu nội dung bài. Luyện nói  
thành câu về một vấn đề hay về tranh.  
1.4. Bản chất của một tiết dạy Tập đọc  
Khi dạy một tiết Tập đọc phải đạt được yêu cầu, mục tiêu của bài. Tiết học  
phải được chuẩn bị chu đáo và phù hợp với học sinh. Phải tổ chức các phương  
pháp, hình thức dạy học sáng tạo, sinh động, nhẹ nhàng, hiệu quả sao cho học  
sinh trong lớp đều nhận biết, nắm được kiến thức, tạo hứng thú học cho học  
sinh, lấy học sinh làm trung tâm. Luôn quan tâm khích lệ, động viên và dạy  
phân hóa đối tượng học sinh để tránh làm cho học sinh không hoàn thành nhiệm  
vụ khai thác nội dung về các bài tập đọc.  
Đối với học sinh lớp 1, các em bắt đầu chuyển từ giai đoạn Học vần sang  
Tập đọc vì vậy giờ Tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương pháp Học vần, cả  
phương pháp Tập đọc. Yêu cầu của giờ Tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm  
vần đã học (nhất là các vần khó), đọc đúng và đọc trơn tiếng, đọc liền từ, đọc  
6
cụm từ và câu: tập ngắt, nghỉ (hơi) đúng chỗ trong câu. Hiểu các từ thông  
thường, hiểu được ý diễn đạt đã đọc (độ dài câu khoảng 10 tiếng). Bên cạnh  
nhiệm vụ ôn vần cũ, học vần mới học sinh còn được phát triển vốn từ, nói câu  
đơn giản.  
1.5. Một số điều kiện để học sinh đạt kết quả cao khi học về phân môn Tập  
đọc.  
Chuẩn bị cho việc đọc: Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế  
để đọc, khi ngồi đọc cần phải ngồi ngăn ngắn, khoảng cách từ sách đến mắt nên  
nằm trong khoảng từ 30 - 35 cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và hít ra chậm để  
lấy khi được cô giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc  
ngay.  
Trong quá trình giảng dạy giáo viên lựa chọn các phương pháp, hình thức  
học tập và cách sử dụng đồ dung trực quan, minh họa giúp học sinh bổ sung,  
củng cố được kiến thức nội dung bài.  
Đồ dùng phải được chuẩn bị tốt, phải nắm vững yêu cầu mục đích giáo  
dục củng cố kiến thức bài học.  
Các hình thức học như: thảo luận, cá nhân, nhóm … phải thu hút học sinh  
tham gia tự giác và tích cực, có ý thức, thái độ nhiệt tình, sôi nổi khai thác nội  
dung bài Tập đọc.  
7
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG DẠY HỌC  
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu  
2.1. Thực trạng chung của vấn đề nghiên cứu  
2.1.1. Khảo sát nội dung chương trình sách giáo khoa - Tiếng Việt 1 - Tập 2  
a. Cách sắp xếp các bài tập đọc  
Phần Luyện tập tổng hợp sách giáo khoa - Tiếng Việt 1 (Tập 2) có 42 bài  
tập đọc (Giảm tải 3 bài: Mẹ và cô, Quyển vở của em, Con quạ thông minh) từ  
tuần 25 đến tuần 35 được sắp xếp theo các tiêu chí:  
+ Xếp theo chủ điểm  
Mỗi tuần có 3 bài tập đọc - các bài này cùng có một chủ điểm. Có 3 chủ  
điểm: Nhà trường - Gia đình - Thiên nhiên đất nước. Mỗi chủ điểm được lặp đi  
lặp lại 4 lần.  
+ Xếp từ ngắn đến dài  
Độ dài phát triển tăng dần dao động từ 50 - 100 tiếng (văn xuôi) từ 4 - 20  
dòng (thơ). Ví dụ:  
Tuần 25: Bài “Tặng cháu” có 4 dòng thơ  
Tuần 35: Bài Ò..ó..ocó 30 dòng thơ  
+ XÕp tõ ®¬n gi¶n ®Õn phøc t¹p  
C¸c bµi TËp ®äc ë đầu tuÇn cã néi dung Ýt h¬n, ®¬n gi¶n h¬n c¸c bµi ë  
tuÇn cuèi. VÝ dô: TuÇn 35: Bài: Anh hùng biển cả - nội dung nhiều hơn các bài ở  
tuần đầu  
b. Hệ thống các vần khó ít dùng  
Tuần Tên các bài tập đọc  
Ôn vần cũ  
Học vần mới  
oen  
Ghi chú  
28  
Đầm sen  
en  
ang  
oc  
et  
iêng  
ây  
Mời vào  
oong  
ooc  
oet  
yêng  
uây  
uyt  
Chú công  
Hai chị em  
Lũy tre  
30  
31  
Sau cơn mưa  
Nói rối hại thân  
32  
it  
Các vần trong hệ thống trên có vần có âm đệm o, eo. Các âm vần này theo  
nguyên tắc đối lập giữa bán âm và không có bán âm.Ví dụ: en - oen; ây - uây  
hoặc giữa cặp âm cuối, ví dụ: oăt - oa; oe - oeo. Nắm chắc nguyên tắc này giáo  
viên giúp học sinh nắm chắc vần một cách khoa học.  
2.1.2. Yêu cầu về kỹ năng đọc  
a. Đọc thành tiếng  
* Luyện đọc đúng  
8
- Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,  
không có lỗi. Đọc đúng là không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc đúng  
phải thể hiện dùng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là  
không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm đọc  
đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu).  
- Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị  
Tiếng Việt. Ví dụ:  
+ Đọc đúng các phụ âm đầu: hướng dẫn học sinh có ý thức phân biệt để  
không đọc “chăm nàm”,“màu xăn ” mà phải đọc là “chăm làm”,“màu xanh ”.  
+ Đọc đúng các âm chính: hướng dẫn học sinh có ý thức phân biệt để  
không đọc “trái lịu, con hiêu” mà phải đọc “trái lựu, con hươu”.  
+ Đọc đúng các âm cuối: hướng dẫn học sinh có ý thức không đọc:  
“cuồng cuộng” mà phải đọc “cuồn cuộn”.  
+ Đọc đúng bao gồm cả đọc tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu.  
Ngữ điệu là hiện tượng phức tạp, có thể tách ra thành các yếu tố cơ bản có quan  
hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng), trọng âm, âm điệu, âm nhịp  
và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy cho học sinh làm chủ những yếu tố  
này. Đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng vừa là mục đích  
của dạy đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung  
bài đọc.  
Khi dạy đọc đúng giáo viên cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ  
pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không được tách một từ ra  
làm hai. Theo dõi lưu ý học sinh không ngắt hơi.  
“ Với em bé gái  
Phải người / lớn cơ”  
Ông già bẻ gẫy từng chiếc đũa một / cách dễ dàng”. Không tách giới  
từ với danh từ đi sau nó.  
Ví dụ không đọc:  
“ Như con chim chích  
Nhảy trên / đường vàng”  
Không tách động từ, hệ từ “là” với danh từ đi sau nó.  
Ví dụ không đọc  
Cá heo là / tay bơi giỏi nhất của biển  
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu  
hơi ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở  
cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu  
cảm. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ giọng khi đọc bộ  
phận giải thích của câu.  
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.  
9
*Luyện đọc nhanh  
- Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩm chất đọc  
về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắt ngứ. Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau  
khi đã đọc đúng. Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn. Vì vậy đọc nhanh  
không phải đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc  
thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh  
hơn nhiều.  
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu để  
học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài.  
Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra, còn có biện  
pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để điều  
chỉnh tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng cho  
trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc như thế nào còn phụ  
thuộc vào độ khó của bài đọc. (Cuối lớp 1 yêu cầu kĩ năng đọc cao hơn).  
b. Đọc hiểu  
Hiểu nghĩa các từ thông thường, hiểu được ý diễn đạt trong câu. Cảm thụ  
bài đọc với học sinh lớp 1 không yêu cầu khai thác sâu, kĩ bài văn bài thơ mà  
học sinh chỉ cần nắm được ý để trả lời các câu hỏi.  
c. Học thuộc lòng một số bài văn vần  
2.1.3. Nhiệm vụ của mỗi tiết dạy Tập đọc  
Chương trình Tập đọc 1 quy định 1 tiết Tập đọc dạy 2 tiết.  
+ Tiết 1:  
Do học sinh vừa mới học vần âm - vần xong còn khá nhiều đọc chậm,  
nhiều học sinh còn phải đánh vần song rồi mới đọc được thành tiếng. Vì vậy  
thời gian dành chủ yếu cho cho việc luyện đọc. Trong tiết này giáo viên giúp  
học sinh đọc trơn tiếng, liền từ ngữ (còn với học sinh đọc tốt, lưu loát rõ ràng  
giáo viên giúp học sinh làm quen đọc thầm và đọc diễn cảm).  
Ngoài ra trong 1 tiết giáo viên giúp học sinh ôn luyện các vần khó, ít  
dùng để học và giới thiệu một số vần mới chưa học ở tiết 1. Giáo viên giúp học  
sinh thực hiện các công việc sau:  
- Luyện đọc các từ ngữ khó trong bài  
- Luyện đọc câu khó  
- Luyện đọc đoạn bài, ôn luyện vần khó - học vần mới  
- Ôn về cấu tạo vần, hiểu vần đã học  
- Học một số vần mới ít dùng  
+ Tiết 2:  
Tiết này giáo viên chủ yếu giúp học sinh trên cơ sở tiết 1. Luyện đọc, tìm  
hiểu bài (đọc trơn lưu loát văn bản - tìm hiểu nội dung bài).  
Cuối tiết 2 giáo viên dành 7 - 10 phút để luyện nói theo chủ điểm.  
10  
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu  
2.2.1. Thuận lợi  
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu trường.  
- Cùng với sự quan tâm của Ban Đại Diện cha mẹ học sinh.  
- Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên tổ khối Một.  
- Phòng học thoáng mát, cơ sở vật chất hiện đại, đầy đủ ánh sáng, bàn ghế đúng  
tiêu chuẩn.  
- Đa số học sinh đã qua mẫu giáo và ở tại địa bàn phường Thanh Xuân Bắc.  
2.2.2. Khó khăn  
a. Về phía nhà trường  
Trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội là một đơn vị  
giáo dục mới được thành lập. Toàn trường có 1300 học sinh chia làm 25 lớp,  
học sinh đa số đều ở trên địa bàn phường Thanh Xuân Bắc. Nhà trường có hơn  
70 cán bộ, công nhân viên. Vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy và học được  
nhà trường đặc biệt quan tâm. Nhiều môn học đã đưa ra bàn bạc và làm chuyên  
đề như: Chuyên đề Toán, chuyên đề Tự nhiên và Xã hội, chuyên đề Tập làm  
văn, chuyên đề Luyện từ và câu, chuyên đề Tập đọc. Với mong muốn tìm ra  
được phương pháp dạy học tốt nhất. Song với phân môn Tập đọc, thực tế trong  
quá trình dạy và học thì cả thầy và trò vẫn còn hạn chế (đặc biệt là việc đọc  
đúng, đọc lưu loát) nhiều em chưa đạt yêu cầu. Từ việc đọc đúng, đọc lưu loát  
còn hạn chế nên việc đọc hiểu của học sinh chất lượng còn chưa cao.  
b. Về phía giáo viên  
Nhìn chung giáo viên Tiểu học đều rất coi trọng giờ Tập đọc. Phần lớn  
giáo viên khẳng định việc luyện đọc quan trọng hơn còn về thời gian phân bố  
trong giờ luyện đọc thì 80% số giáo viên cho rằng thời gian luyện đọc là nhiều  
hơn còn 20% giáo viên cho rằng thời gian của hai phần này là như nhau. Được  
dự các tiết Tập đọc của trường nói chung và của lớp 1 nói riêng tôi nhận thấy  
phần lớn giáo viên đều chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh song do thời gian bị  
hạn chế nên việc sửa lỗi chỉ được lướt qua khi luyện đọc từ hoặc câu giáo viên  
thường chỉ cho học sinh luyện những từ và câu mà sách giáo khoa yêu cầu chứ  
chưa chọn lọc ra từ hoặc câu mà học sinh của mình hay nhầm lẫn. Bên cạnh đó  
vẫn còn có giáo viên vận dụng phương pháp dạy học chưa phù hợp với từng đối  
tượng học sinh nên chất lượng chưa cao, một số giáo viên chưa nhiệt tình giúp  
đỡ học sinh. Mặt khác do trình độ giáo viên chưa đồng đều nên mỗi giáo viên lại  
có cách hiểu và phân loại khác nhau còn thiếu chính xác nên dẫn đến việc nhận  
thức giọng đọc các bài khác nhau. Còn có giáo viên chưa chú ý rèn đọc cho học  
sinh trong các giờ học, môn học khác.  
c. Về phía học sinh  
Do đặc điểm tâm lí của trẻ 6 - 7 tuổi các em rất hiếu động, khả năng tập  
trung chưa cao. Trong khi đó để cho học sinh đọc trơn, lưu loát, phát âm chuẩn,  
đúng cách ngắt giọng, đòi hỏi nhiều ở tính kiên trì, nhẫn nại chịu khó.  
Bên cạnh đó lớp 1A1 mà tôi điều tra nghiên cứu nói riêng gồm có 60 học  
sinh, trong đó có 35 nữ, học sinh phổ cập 1 em, dân tộc không. Học sinh đi học  
đúng độ tuổi là 96%. Nhưng trình độ nhận thức không đồng đều.  
11  

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 36 trang minhvan 13/03/2025 140
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 qua phân môn Tập đọc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_ren_ki_nang_doc_cho_hoc_sinh_lop_1_qua_phan_mon_tap_doc.pdf