SKKN Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc hiểu (thông hiểu nội dung văn bản mình đọc) và đọc hay (đọc diễn cảm). Năng lực đọc có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau.
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt trong trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện
trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc,
viết. Tập đọc là phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học. Đây là
phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành
và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học
sinh bậc Tiểu học.
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng
bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc
lưu loát, trôi chảy), đọc hiểu (thông hiểu nội dung văn bản mình đọc) và đọc hay
(đọc diễn cảm). Năng lực đọc có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau.
Bốn kĩ năng đọc được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng
và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện kĩ
năng này sẽ tác động đến kĩ năng kia. Vì vậy đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh
cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Đọc trở thành đòi hỏi đầu tiên
đối với mỗi học sinh khi bước vào bậc Tiểu học. Tập đọc với tư cách là phân
môn của Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu này.
Trong khi đó, ở trường Tiểu học, việc dạy đọc bên cạnh những thành công
cũng có nhiều hạn chế, học sinh của chúng ta chưa đọc được tốt như mong
muốn. Kết quả đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành
kĩ năng đọc. Các em chưa nắm được công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, tư
tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản được đọc. Giáo viên
cũng còn lúng túng khi dạy Tập đọc. Cần phải đọc với giọng như thế nào? Làm
thế nào để chữa lỗi phát âm cho học sinh? Làm thế nào để các em đọc đúng hơn,
hay hơn, diễn cảm hơn?... đó chính là trăn trở của mỗi giáo viên trong giờ dạy
Tập đọc.
1/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
Dựa vào nhiệm vụ của phân môn Tập đọc, từ tình hình thực tế lớp, với
những điều học hỏi được ở đồng nghiệp cùng kinh nghiệm của bản thân, tôi xin
đưa ra một kinh nghiệm nhỏ đã áp dụng vào lớp mình và có kết quả khả quan.
“RÈN ĐỌC THÀNH TIẾNG CHO HỌC SINH LỚP 5
TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC”
2. Thời gian:
-
Năm học 2016 - 2017, từ tháng 9 năm 2016 đến 15 tháng 3 năm 2017.
3. Đối tượng:
-
Đối tượng nghiên cứu: học sinh lớp 5C trường TH Thanh Xuân Nam
4. Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng:
-
Phạm vi nghiên cứu trong phân môn Tập đọc lớp 5 và ứng dụng với các học
sinh do tôi đang chủ nhiệm và giảng dạy.
5. Khảo sát đầu năm:
Thời điểm
Đầu năm
Kĩ năng đọc
Số lượng
%
Đọc chưa lưu loát, ngọng.
38 học sinh
–
–
70,4 %
Đọc đúng, biết ngắt, nghỉ,
12 học sinh
4 học sinh
22,2 %
7,4 %
tốc độ đọc phù hợp.
Đọc hay
–
2/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
A. Cơ sở lí luận:
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức
của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Bởi thế, dạy Tiếng Việt
có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của mỗi con
người. Trong đào tạo con người, trí dục, sự giáo dục, bồi dưỡng về mặt tri thức,
trí tuệ, tư duy là một nhiệm vụ hết sức cơ bản. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ phát
triển tư duy, nhà trường chúng ta cần phải tổ chức tốt việc rèn luyện ngôn ngữ
cho học sinh.
“ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lê
Nin). Không có ngôn ngữ, xã hội không thể tồn tại. Mục đích nghiên cứu ngôn
ngữ trong nhà trường phải là cho học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ làm phương
tiện sắc bén để giao tiếp, vì vậy phát triển lời nói là nhiệm vụ quan trọng nhất
của dạy học Tiếng Việt trong nhà trường. Chúng ta phải lấy hoạt động giao tiếp
làm phương tiện để dạy và học Tiếng Việt.
Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy. Tư duy của con người
không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ. Do vậy các hệ thống dạy học Tiếng
Việt cần đảm bảo mối quan hệ giữa lời nói và tư duy. Phải thường xuyên luyện
tập cho học sinh khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng nhiều hình thức
ngôn ngữ khác nhau, lời nói cần có nội dung, đó chính là tư duy.
Để trẻ em nắm các hiện tượng ngôn ngữ một cách có ý thức, chúng ta cần
chú ý đến đặc điểm nhận thức cảm tính của trẻ. Các em nhận thức thế giới xung
quanh một cách cảm tính bằng mắt, bằng tai, gắn với màu sắc, âm thanh cụ thể.
Do đó dạy tiếng phải dựa trên kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lời nói của học
sinh. Những quan sát, ấn tượng sống của trẻ phải là cơ sở cho bài học Tiếng
Việt.
Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt và tâm lý học , đặc biệt là
tâm lý học lứa tuổi rất chặt chẽ . Không có kiến thức về quá trình tâm lý ở con
người nói chung và ở trẻ em nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển
lời nói cho học sinh. Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học khả năng chú ý chưa cao nên
giáo viên cần quan tâm đến nguyên tắc vừa sức, tổ chức giờ học Tập đọc sao
cho gây được sự chú ý cho các em như tổ chức chơi trò chơi, phân vai, đóng
3/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
kịch… Nhận thức của các em còn nặng trực quan, cụ thể nên khi dạy học phải đi
từ những vấn đề cụ thể đến khách quan (dạy theo phương pháp trực quan).
Trong môn Tiếng Việt lớp 5, với phân môn Tập đọc học sinh phải biết đọc
thành thành tiếng (tốc độ tối thiểu 120 tiếng/ phút) các loại văn bản khác nhau
(nghệ thuật, hành chính, khoa học, báo chí,…); biết đọc màn kịch có giọng đọc
phù hợp với nhân vật trong tình huống kịch; biết đọc diễn cảm bài thơ, văn.
Những yêu cầu đó cho thấy việc rèn đọc thành tiếng là vô cùng quan trọng.
B. Tìm hiểu thực trạng việc đọc của học sinh trong lớp:
Năm học 2016 – 2017, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp
5C. Đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đọc của lớp và nhận thấy:
* Có khả năng đọc khá tốt hoặc tốt: Học sinh đọc trôi chảy văn bản; có
khả năng thể hiện được tình cảm phù hợp nội dung bài đọc hoặc có khả năng bắt
chước bạn và cô giáo để đọc diễn cảm theo nhưng số lượng học sinh đọc được
như vậy rất ít.
* Đọc khá trôi chảy song chưa chính xác văn bản: Phần nhiều học sinh
mắc lỗi này. Do chưa làm chủ được tia mắt nên một số học sinh khi đọc còn
bỏ sót tiếng, thêm tiếng hoặc lạc dòng, đọc không chính xác từ ngữ trong bài
văn, đoạn văn. Nhiều học sinh có thói quen đọc như đếm từng tiếng một, mỗi
tiếng đều có trọng âm như khi đọc chính tả. Vì vậy, các em đọc chưa trơn từ,
cụm từ, câu được.
* Đọc ngắt nghỉ chưa chính xác đặc biệt với những câu dài; đọc chưa có
ngữ điệu hoặc đọc ê a: Phần lớn học sinh chỉ ngắt nghỉ đúng khi có chấm, phẩy
và với câu thơ hoặc câu văn ngắn; còn với những câu văn dài thì nhiều em mắc
lỗi này.
* Ngọng do lỗi về phương ngữ: Với âm r/ d/ gi; ch/ tr; s/ x; vần oong/ ong;
vần ưu/ ươu. Lỗi này dễ sửa và số lượng học sinh mắc cũng không nhiều.
* Ngọng do bẩm sinh: Ít em mắc nhưng không phải trường hợp nào cũng
có khả năng sửa được. Để luyện cho các em cần có một quá trình lâu dài và kiên
trì với cả giáo viên và học sinh.
Để giúp học sinh luyện đọc tốt, trước tiên mỗi giáo viên phải nắm được
tình hình thực tế của lớp mình và tình hình thực tế lớp tôi như sau:
Tổng số học sinh: 54 em. Trong đó:
4/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
- Đọc hay: 4 em
- Đọc rõ ràng, rành mạch nhưng chưa diễn cảm: 16 em
- Đọc ngọng (âm đầu l – n; dấu thanh hỏi -> nặng, ngã -> sắc,
vần anh -> ăn, giọng địa phương ...): 5 em
- Đọc chưa lưu loát: 29 em
Kết quả khảo sát cho thấy rõ năng lực đọc thành tiếng của học sinh còn
yếu. Từ thực tế lớp, tôi đã cố gắng tìm ra các biện pháp nhằm khắc phục chất
lượng đọc của học sinh lớp mình, tôi cố gắng tìm biện pháp nhằm rèn kĩ năng
đọc thành tiếng cho học sinh.
C. Các biện pháp tiến hành rèn đọc thành tiếng trong phân môn Tập đọc:
Phân môn Tập đọc lớp 5 nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển kĩ năng
đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở các lớp dưới; tăng cường tốc độ đọc,
khả năng đọc lướt; khả năng đọc diễn cảm. Chính vì thế việc giúp các em đọc
thành tiếng tốt là việc làm hết sức quan trọng. Với đề tài "Rèn đọc thành tiếng
cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc", trong mỗi giờ Tập đọc, tôi đã
tiến hành các biện pháp sau:
1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh khi dạy và học Tập đọc.
2. Tiến hành rèn đọc thành tiếng cho HS trong giờ Tập đọc gồm:
a. Rèn đọc nối tiếp
b. Sửa lỗi phát âm
c. Rèn đọc đúng câu, đoạn
d. Luyện đọc diễn cảm
Biện pháp cụ thể như sau:
1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh khi dạy và học Tập đọc:
* Giáo viên:
Giờ dạy đạt hiệu quả cao hay thấp tuỳ thuộc vào sự chuẩn bị của giáo viên.
Chính vì vậy, trước mỗi bài dạy, giáo viên phải có sự đầu tư, chuẩn bị kĩ; phải
nghiên cứu mục đích, yêu cầu của bài Tập đọc, soạn giáo án cẩn thận; đọc thêm
5/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
các tài liệu có liên quan để phục vụ cho bài dạy. Giáo viên phải xác định rõ yêu
cầu, vị trí của mỗi bài Tập đọc trong hệ thống chương trình... để từ đó giáo viên
luôn làm chủ được bài dạy của mình.
* Học sinh:
Học sinh phải đọc trước bài Tập đọc nhiều lần; chuẩn bị bài bằng cách trả
lời các câu hỏi trong sách giáo khoa. Điều này sẽ giúp học sinh có tâm thế tốt
khi bước vào tiết Tập đọc.
2. Rèn đọc thành tiếng cho HS trong giờ Tập đọc:
2.1. Rèn đọc nối tiếp cho học sinh khi đọc thành tiếng:
Mục đích của giờ Tập đọc là luyện đọc cho học sinh vì thế học sinh phải
được luyện đọc nhiều, nhiều học sinh cùng được luyện đọc. Cho học sinh đọc
luân phiên nhau theo một hình thức giáo viên đã chọn sẵn chính là đọc nối tiếp.
Trong mỗi giờ Tập đọc, hình thức đọc nối tiếp là Đọc nối tiếp đoạn.
Cần cho học sinh đọc nối tiếp đoạn để rèn học sinh kĩ năng đọc đúng số
lượng câu nhiều. Hình thức này thường được tiến hành ở phần đầu giờ Tập đọc.
Học sinh nối tiếp, mỗi học sinh đọc theo trình tự một đoạn trong bài (lặp lại 2
vòng, sao cho nhiều học sinh trong lớp được đọc). Giáo viên kết hợp sửa lỗi
cách đọc cho các em. Luyện đọc nối tiếp đoạn còn kèm với việc giáo viên tổ
chức cho học sinh hoạt động nhóm: đọc trong nhóm, đọc thi giữa các nhóm.
Điều này rất cần thiết trong việc kiểm tra chất lượng đọc trong nhóm của các
em, và để giúp các em có khả năng nhận xét, đánh giá khả năng đọc của bạn từ
đó tự các em sẽ cố gắng đọc tốt hơn để được các bạn bình chọn, được cô giáo
tuyên dương.
Ví dụ:
-
Bài “Những con sếu bằng giấy” (Tiếng Việt 5/1) chia làm 4 đoạn thì 4 học
sinh đọc nối tiếp.
-
Bài “Luật tục xưa của người Ê-đê” (Tiếng Việt 5/2) có 3 đoạn, nhưng để
tránh cho một học sinh phải đọc đoạn quá dài thì đoạn 3 giáo viên có thể chia
thành 2 phần và sẽ có 4 học sinh được đọc nối tiếp.
Riêng với thơ thì tuỳ thuộc và số lượng khổ thơ trong bài để giáo viên có
6/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
thể cho lượng học sinh đọc nối tiếp phù hợp.
Ví dụ:
-
Bài thơ "Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà" (Tiếng Việt 5/1) có 3 khổ,
giáo viên sẽ mời 3 em đọc nối tiếp.
Bài thơ “Đất nước” (Tiếng Việt 5/2) gồm 5 khổ, 5 học sinh đọc nối tiếp
theo từng khổ.
Đây là một hình thức rất tốt để nhiều học sinh được luyện đọc và đồng thời
-
cũng rèn khả năng tập trung sự chú ý của học sinh vào bài đọc của bạn, vào bài
Tập đọc; có thế các em mới có khả năng đọc đúng và đọc tốt.
2.2. Sửa lỗi phát âm cho học sinh khi đọc thành tiếng:
Trước khi luyện đọc cho học sinh, giáo viên cần đọc mẫu hoặc gọi một học
sinh đọc tốt đọc trước, yêu cầu học sinh cả lớp chú ý theo dõi; đây là việc làm
hết sức quan trọng vì nó sẽ giúp các em phần nào định hình giọng đọc, theo dõi
và xác định đúng chính tả văn bản. Tuy nhiên trong quá trình đọc thành tiếng;
học sinh không thể tránh được những lỗi vi phạm. Mục tiêu của chúng ta là rèn
luyện và khắc phục những lỗi đó. Sau đây là một số cách sửa lỗi cho học sinh
khi đọc:
- Sửa khi học sinh đọc nối tiếp: Trong khi học sinh đọc nối tiếp; giáo viên theo
dõi. Phát hiện học sinh mắc lỗi, giáo viên để học sinh hoàn thành câu hoặc đoạn
trước rồi yêu cầu học sinh đọc lại những tiếng đã đọc sai; nếu học sinh đọc vẫn
chưa chuẩn, giáo viên sẽ đọc mẫu rồi yêu cầu đọc lại, kèm những lời động viên,
nhắc nhở giúp học sinh rút kinh nghiệm.
-
Nhiều học sinh cùng sai một số tiếng, từ khó thì giáo viên viết lên bảng và
yêu cầu nhiều học sinh đọc lại. Số lượng từ, tiếng khó trong trường hợp này tuỳ
thuộc từng bài.
Ví dụ:
+
Bài “Lòng dân” (Tiếng Việt 5/1): Giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc
đúng phương ngữ Nam bộ hổng thấy, thiệt, quẹo vô.
+
+
Bài “Hộp thư mật” (Tiếng Việt 5/2): chữ V (chữ vê), bu-gi, cạy.
Bài "Lớp học trên đường" (Tiếng Việt 5/2) cần giúp học sinh đọc đúng tên
riêng nước ngoài: Vi-ta-li, Ca-pi, Rê-mi.
Khi học sinh đọc nhóm giáo viên cần định hướng trước các em trong nhóm
phải theo dõi bạn đọc và sửa kịp thời cho bạn.
-
-
Nhận xét và bình chọn bạn đọc tốt cũng là một cách giúp các em phát hiện
7/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
tiếng từ khó từ đó tự sửa khi mình đọc để tránh cái sai mà bạn đã mắc phải.
2.3. Rèn đọc đúng câu, đoạn văn:
Ngoài tìm tiếng, từ khó đọc, dễ sai trong phát âm cần phải luyện đọc, sửa
sai ở phần trên; trong một giờ dạy Tập đọc, giáo viên cần xác định được và chọn
ra đâu là câu khó đọc, câu dài để hướng dẫn học sinh luyện đọc cho phù hợp.
Trước tiên giáo viên yêu cầu học sinh nêu cách ngắt và nghỉ hơi trong câu. (Ngắt
hơi sau dấu phẩy, nghỉ hơi sau dấu chấm). Sau đó giáo viên hướng dẫn thêm
ngắt hơi trong câu văn dài, câu khó để học sinh đọc cho thuận tiện mà không bị
sai nội dung văn bản.
-
Luyện đọc đúng còn bao gồm cả việc luyện đọc đúng tiết tấu, ngắt nghỉ hơi
đúng. Học sinh phải biết dựa vào nghĩa, dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các
tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Học sinh không được đọc tách một từ làm hai.
+
Ví dụ không đọc:
“Trước mặt là Ngã Ba Hạc, nơi gặp gỡ giữa ba dòng sông lớn tháng năm
mải miết đắp / bồi phù sa cho đồng bằng xanh mát.”
(Phong cảnh đền Hùng - Tiếng Việt 5/2)
+
Không tách động từ – hệ từ “là” với danh từ sau nó.
Ví dụ không đọc:
“Trời xanh đây là / của chúng ta” (Đất nước - Tiếng Việt 5/2)
mà cần đọc:
“Trời xanh đây / là của chúng ta”
+
Dựa vào quan hệ cú pháp, học sinh phải biết ngắt hơi đúng ranh giới của
cụm từ.
Ví dụ không đọc:
“Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm / nắng lá rơi đầy.”
(Đất nước - Tiếng Việt 5/2)
mà đọc:
“Người ra đi / đầu không ngoảnh lại
Sau lưng /thềm nắng / lá rơi đầy.”
8/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
Hay không đọc:
“Bầm ra ruộng / cấy bầm run”
(Bầm ơi - Tiếng Việt 5/2)
mà đọc là:
“Bầm ra ruộng cấy/ bầm run”
-
Việc ngắt hơi phải phù hợp với dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu ở dấu
chấm. Ngoài việc ngắt, nghỉ đúng sau dấu câu thì học sinh còn phải biết ngắt hơi
ngắn sau một số cụm từ ở những câu dài.
Chẳng hạn:
+
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,/ dân tộc Việt Nam có
bước tới đài vinh quang/ để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay
không,/ chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.//”
(Thư gửi các học sinh - Tiếng Việt 5/1)
+
Bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” (Tiếng Việt 5/1): cần hướng dẫn ngắt
câu như sau:
“Mùa đông,/ giữa ngày mùa,/ làng quê toàn màu vàng/ những màu vàng
rất khác nhau.// Có lẽ/ bắt đầu từ những đêm sương sa/ thì bóng tối đã hơi
cứng/ và sáng ngày ra/ thì trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi.//”
+
Bài “Tà áo dài Việt Nam” (Tiếng Việt 5/2): Giáo viên cần hướng dẫn học
sinh đọc ngắt nghỉ hơi đúng:
“Chiếc áo dài tân thời/ là sự kết hợp hài hòa giữa phong cách dân tộc tế
nhị,/ kín đáo/ với phong cách phương Tây hiện đại,/ trẻ trung.//”
-
Không chỉ đối với văn xuôi, đặc biệt các bài thơ trong chương trình, ngoài
cách ngắt nhịp phổ biến theo từng thể loại thơ ra thì mỗi bài thơ có đặc thù
riêng, mỗi bài thơ mang sắc thái biểu cảm riêng, chính vì thế giáo viên cần lưu ý
chọn ra các câu thơ khó đọc, mang đặc điểm biểu đạt riêng để ngắt nhịp thơ cho
đúng.
Ví dụ: Đọc đúng, ngắt nhịp đúng:
“Sáng mát trong/ như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu/ hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu/ đã xa.//
9/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài/ xao xác hơi may
Người ra đi/ đầu không ngoảnh lại
Sau lưng/ thềm nắng/ lá rơi đầy.//
(Đất nước - Tiếng Việt 5/2)
“Chắt trong vị ngọt/ mùi hương
Lặng thầm thay/ những con đường ong bay.//
Trải qua mưa nắng vơi đầy
Men trời đất/ đủ làm say đất trời.//
Bầy ong giữ hộ cho người
Những mùa hoa/ đã tàn phai tháng ngày.//”
(Hành trình của bầy ong - Tiếng Việt 5/1)
2.4. Luyện đọc diễn cảm:
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đọc thành tiếng. Đó là khả năng làm chủ ngữ
điệu, tốc độ, cao độ, cường độ của giọng, để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm
mà tác giả đã gửi gắm vào bài đọc, đồng thời thể hiện sự thông hiểu, khả năng
cảm thụ của người đọc. Đọc diễn cảm chỉ thể hiện được trên cơ sở đọc đúng và
lưu loát vì thế giáo viên cần đưa ra nội dung và yêu cầu đọc phù hợp với khả
năng của học sinh. Ngoài ra, đọc diễn cảm được quy định bởi cảm xúc của bài
đọc vì vậy muốn dạy học sinh đọc diễn cảm, trước hết giáo viên phải giúp các
em hiểu, hoà nhập được với bài văn, bài thơ; cũng chính vì vậy, phần luyện đọc
diễn cảm được đưa vào phần luyện đọc lại sau khi tìm hiểu bài.
Để luyện đọc diễn cảm cần làm các công việc sau:
* Xác định giọng đọc chung của toàn bài:
Giáo viên đưa ra hoặc học sinh đàm thoại, xác định thể loại của văn bản,
nội dung chính của bài để xác định giọng đọc chung cho cả bài.
Ví dụ
-
Bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” (Tiếng Việt 5 tập 1) giọng chậm rãi,
dàn trải, nhẹ nhàng; nhấn giọng những từ ngữ tả những màu vàng khác nhau của
cảnh vật.
- Bài “Phong cảnh đền Hùng” (Tiếng Việt 5/2) cần đọc với giọng trang trọng,
tha thiết.
10/18
Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc
Với thơ cần chú ý tính nhịp điệu của ngôn ngữ thơ ca, sự nhịp nhàng giữa
các dòng thơ, tránh đọc máy móc mà không chú ý đến ý nghĩa nối tiếp giữa
dòng trước và dòng sau. Với một số bài thơ, giáo viên nên hướng dẫn học sinh
đọc “vắt dòng” để đảm bảo ý nghĩa những câu thơ. Chẳng hạn:
“Nơi những dòng sông cần mẫn
Gửi lại phù sa bãi bồi
Để nước ngọt ùa ra biển
Sau cuộc hành trình xa xôi.” (Cửa sông - Tiếng Việt 5/2)
Hay:
“Nắng đứng ngủ quên
Trên những bức tường
Làn gió nào về mang hương
Ủ đầy những rãnh tường chưa trát vữa.”
(Về ngôi nhà đang xây - Tiếng Việt 5/1)
* Xác định giọng đọc từng đoạn:
Với sự hướng dẫn, gợi ý của giáo viên, học sinh tìm ra cách thể hiện giọng
đọc phù hợp với nội dung từng đoạn trong bài.
Ví dụ:
Đọc bài “Sự sụp đổ của chế độ a-pác-thai” (Tiếng Việt 5/1):
- Đoạn 1: giọng thông báo rõ ràng, rành mạch, tốc độ khá nhanh, nhấn giọng ở
những số liệu, thông tin.
- Đoạn 2 : giọng bất bình.
- Đoạn 3: cảm hứng ngợi ca cuộc đấu tranh dũng cảm, bền bỉ của người da đen.
Học sinh luyện tập thể hiện giọng đọc của từng câu, đoạn, bài:
Khi luyện đọc, giáo viên cần chỉ ra những chỗ khó đọc, những “điểm nút”
trong bài để học sinh hiểu và tìm cách thể hiện. Các học sinh có thể có những
cách thể hiện khác nhau theo sự cảm nhận của mình.
Giáo viên cần cho học sinh nghe, nhận xét, thảo luận cách đọc của bạn, giải
thích vì sao đọc như thế là hay, chưa hay, học tập những điểm hay trong cách
đọc của thầy, của bạn. Giáo viên có thể thị phạm những cách đọc khác nhau
trong thế đối lập để học sinh nhận ra cách đọc nào đúng, cách đọc nào hay và
học tập.
-
Ví dụ: Đọc bài “Đất nước” (Tiếng Việt 5/2):
11/18
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Rèn đọc thành tiếng cho học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_ren_doc_thanh_tieng_cho_hoc_sinh_lop_5_trong_phan_mon_t.doc