SKKN Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn Đạo đức Lớp 1

Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng CSVN đã xác định con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và bền vững.
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
A. PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
1.1 Cơ sở luận  
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần th9 của Đảng CSVN đã xác định  
con người yếu tố cơ bản để phát triển hội, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và  
bền vững. Giáo dục là nhân tố tạo ra nguồn lực con người thực hiện công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa và thực hiện tưởng XHCN “Dân giàu, nước mạnh- hội công  
bằng dân chủ, văn minh”. Đảng ta đã khẳng định: “Để đáp ứng yêu cầu về con  
người nguồn nhân lực, nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về  
giáo dục đào tạo”  
Trước yêu cầu cấp bách của việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ công  
nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước theo định hướng XHCN, Luật giáo dục Việt Nam  
2005 đã xác định mục tiêu giáo dục tiểu học là: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học  
sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo  
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên  
trung học cơ sở.Giáo dục đạo đức một trong những nhiệm vụ giáo dục hàng đầu  
của nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng. Bởi lẽ, đó một trong  
những mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường. Đặc biệt trong cơ chế thị trường  
hiện nay thì giáo dục đạo đức lại một nội dung giáo dục cần thiết và quan trọng  
hơn bao giờ hết vì thông qua giáo dục đạo đức thì học sinh sẽ được trang bị những  
kiến thức, kinh nghiệm, thái độ đúng mức trong việc lựa chọn hành vi ứng xử phù  
hợp với chuẩn mực đạo đức của hội.  
Trong nhà trường tiểu học, việc giáo dục đạo đức cho học sinh được thực hiện  
thông qua hai con đường cơ bản. Đó tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp và  
dạy học các môn học, đặc biệt là môn đạo đức.  
Môn đạo đức có vai trò quan trọng trong việc giáo dục cho học sinh ở cả ba mặt  
ý thức, thái độ, hành vi theo các chuẩn mực hành vi đạo đức mà xã hội yêu cầu ở  
học sinh. Môn đạo đức ở tiểu học giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục cơ sở  
ban đầu những phẩm chất đạo đức cho người học sinh – người lao động mới.  
1/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
Việc dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức giúp cho học sinh được học đi  
đôi với hành, được thực hành trải nghiệm nhiều kĩ năng sống cần thiết phù hợp với  
lứa tuổi. Chính nhờ sự trải nghiệm này mà học sinh sẽ tích lũy được nhanh chóng  
các kinh nghiệm ứng xử đúng đắn trong các tình huống khác nhau, ở trường, nhà  
ngoài xã hội. Từ đó giúp các em hình thành các quan điểm niềm tin và tình cảm  
Trong dạy học môn đạo đức, việc dạy kĩ năng sống rất quan trọng. Bởi lẽ, học  
sinh của chúng ta hiện nay chịu rất nhiều tác động từ nhiều phía khác nhau: từ thầy  
cô, ông bà, anh chị em, bạn bè, thông tin đại chúng. Tất cả các yếu tố này có yếu tố  
tiêu cực và tích cực. đối với học sinh lớp 1, vốn kinh nghiệm sống của các các  
em còn ít, một số thói quen hành vi chưa ổn định nên rất dễ bị những ảnh hưởng xấu  
tác động lôi cuốn và phân tán. Trong khi đó, chương trình môn đạo đức lớp 1 lại có  
những chuẩn mực hành vi thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của gia đình. vậy,  
cần dạy kĩ năng sống để giúp học sinh có ý thức, thái độ, hành vi đúng để từ đó  
nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục.  
1.2 Cơ sở thực tiễn  
Trong thực tiễn dạy học môn đạo đức ở trường tiểu học cho thấy giáo viên rất ít  
khi dạy kĩ năng sống, giáo dục chỉ hẹp ở bài học, việc học thực hiện đúng các  
chuẩn mực hành vi hay không giáo viên không cần biết. Bên cạnh đó, việc đánh giá  
không thường xuyên, không cập nhập còn mang tính đối phó.  
Mặt khác, nhiều gia đình mải lo công việc làm ăn, kinh doanh, họ có quá ít thời  
gian và cũng không coi trọng thời gian giáo dục con cái, hướng dẫn kiểm tra việc  
học tập giao lưu bạn của chúng, uốn nắn cách cư xử hội. Họ phó mặc giáo dục  
cho hệ thống nhà trường với ý nghĩ đơn giản chỉ cần cung cấp cho con cơm no, áo  
đẹp, tiền giải trí.  
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là:  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp  
1.  
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài  
Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống vấn đề nghiên cứu không còn mới ở Việt  
Nam :  
+ Năm 1996, thuật ngữ kĩ năng sống được biết đến thông qua cách tiếp cận về  
4 trụ cột trong giáo dục của thế kỉ 21: “Học để biết, học để làm, học để cùng  
2/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
chung sống, học để tự khẳng định”. Sau đó, thuật ngnày được đề cập đến  
trong chương trình UNICEF tại Việt Nam: “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ  
sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà  
trường”.  
+ Năm 2000, theo chương trình hành động “Giáo dục cho mọi người” tại diễn  
đàn giáo dục thế giới, giáo dục kĩ năng sống đã được xem như một nội dung  
của chất lượng giáo dục thế giới, giáo dục kĩ năng sống đã được xem như một  
nội dung của chất lượng giáo dục mỗi quốc gia, trong đó Việt Nam.  
+ Năm 2003, các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục ở Việt Nam mới hiểu đầy  
đủ hơn về Kĩ năng sống sau hội thảo “Chất lượng giáo dục kĩ năng sống”  
do UNESCO tổ chức tại Nội.  
+ Năm 2005, nhóm tác giả của Viện chiến lược chương trình giáo dục đã  
có công trình nghiên cứu đầu tiên: “Giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam”.  
Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến các nội dung cơ  
bản: các quan điểm về kĩ năng sống; cơ sở pháp lý của giáo dục kĩ năng sống  
ở Việt Nam; giáo dục kĩ năng sống ở các bậc học; cách thức giáo dục kĩ năng  
sống; đánh giá về giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam; những thách thức và  
định hướng giáo dục kĩ năng sống trong tương lai. Đây là công trình nghiên  
cứu quan trọng, làm cơ sở, nền tảng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo  
về kĩ năng sống ở Việt Nam.  
+ Ở bậc Tiểu học, vấn đề giáo dục kĩ năng sống đã được quan tâm nhưng chỉ  
được thực hiện tích hợp thông qua các môn học trong nhà trường. Đã nhiều  
công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nói  
chung, cho học sinh tiểu học nói riêng. Có thể kể ra đây một scông trình  
nghiên cứu như:  
1. Nguyễn Thanh Bình: Giáo trình chuyên đề giáo dục kĩ năng sống. NXB  
Đại học Sư phạm, 2009  
2. Nguyễn Thị Thu Hằng : Một số vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học  
sinh Tiểu học. Tạp chí giáo dục số 204 (kì 2 – 12/2008)  
3. Đỗ Khánh Nam: Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn  
Khoa học nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học. Tạp chí  
giáo dục số 206 (kì 2 – 1/2009)  
4. Nguyễn Đức Thạc: Rèn kĩ năng sống cho học sinh – một cách tiếp cận  
về chất lượng, hiệu quả giáo dục. Tạp chí giáo dục số 226 (kì 2 –  
11/2009)  
3/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
5. Phan Thanh Vân: Giáo dục kĩ năng sống Điều cần cho trẻ. Tạp chí  
giáo dục số 225 (kì 1- 11/2009)  
Ngoài ra còn rất nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống ở  
nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, khi nói đến việc giáo dục kĩ năng sống  
cho học sinh tiểu học, các tác giả mới chỉ đề cập đến sự cần thiết phải giáo  
dục kĩ năng sống cho học sinh như thế nào mà chưa đi sâu tìm hiểu thực trạng  
thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông.  
3. Mục đích nghiên cứu  
Nghiên cứu cơ sở luận thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học  
sinh lớp 1 thông qua dạy học môn Đạo đức. Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm  
nâng cao hiệu quả của việc giáo dục kĩ năng sống cho học  
sinh thông qua môn học này.  
4. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong  
dạy học môn đạo đức lớp 1  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Tìm hiểu các vấn đề luận của đtài (Kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống, giáo  
dục kĩ năng sống thông qua dạy học môn Đạo đức…)  
- Tìm hiểu thực trạng về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 thông qua  
dạy học môn Đạo đức  
- Phân tích nguyên nhân của thực trạng đề xuất một số biện pháp để khắc phục  
thực trạng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học.  
6. Phương pháp nghiên cứu  
Trong đề tài này tôi sử dụng phối hợp các phương pháp  
Nhóm phương pháp nghiên cứu luận  
- Phân tích, tổng hợp thuyết  
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết  
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
- Phương pháp quan sát  
- Phương pháp đàm thoại  
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi  
- Phương pháp phỏng vấn  
- Phương pháp thống kê toán học  
4/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
B. PHẦN NỘI DUNG  
Chương I: Cơ sở luận cơ sở thực tiến  
I. CƠ SỞ LUẬN  
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KĨ NĂNG SỐNG  
a. Khái niệm kĩ năng sống  
nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống (KNS):  
-Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng và  
tích cực giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức  
của cuộc sông hàng ngày.  
- Theo UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới.  
Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và  
kĩ năng.  
- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), KNS  
gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết; Học làm người; Học để sống với  
người khác; Học để làm.  
Từ những qua niệm trên đây, thể thấy KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ  
thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của KNS là kĩ năng  
tự quản bản thân và kĩ năng hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống,  
học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của  
mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với hội, khả năng  
ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.  
b. Phân loại kĩ năng sống  
nhiều cách phân loại KNS:  
- Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi sau:  
+ Kĩ năng giải quyết vấn đề  
+ Kĩ năng suy nghĩ/ tư duy phê phán  
+ Kĩ năng giao tiếp hiệu quả  
5/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
+ Kĩ năng ra quyết định  
+ Kĩ năng tư duy sáng tạo  
+ Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân  
+ Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng tự tin của bản than, xác định giá trị  
+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông  
+ Kĩ năng ứng phó với căng thẳng cảm xúc  
- Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân  
loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:  
+ Nhóm kĩ năng nhận biết sống với chính mình, bao gồm các KNS cụ thể như: tự  
nhận thức, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin …  
+ Nhóm kĩ năng nhận biết sống với người khác bao gồm các KNS cụ thể như:  
giao tiếp hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm  
thông, hợp tác …  
+ Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả bao gồm các KNS cụ thể như:  
tìm kiếm xử lí thông tin, duy phê phán, duy sáng tạo, ra quyết định, giải  
quyết vấn đ…  
Trên đây chỉ một số trong các cách phân loại KNS. Tuy nhiên, mọi cách phân  
loại đều chỉ mang tính tương đối. Trên thực tế, các KNS thường không hoàn toàn  
tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau. VD để đạt được mục tiêu cần phối  
hợp các kĩ năng sau: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng giao  
tiếp, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ …  
2. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức  
Việc giáo dục KNS trong môn Đạo đức nhằm: Bước đầu trang bị cho HS các  
KNS cần thiết, phù hợp với lứa tuổi tiểu học, giúp các em biết sống ứng xử phù  
hợp trong các mối quan hệ với những người thân trong gia đình, với thầy cô giáo  
bạn bè và những người xung quanh; với cộng đồng, quê hương đất nước với môi  
trường tự nhiên; giúp các em bước đầu biết sống tích cực, chủ động, mục đích, có  
kế hoạch, tự trọng, tự tin, có kỉ luật, biết hợp tác, giản dị, tiết kiệm, gọn gàng, ngăn  
6/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
nắp để trở thành người con ngoan trong gia đình, HS tích cực của nhà trường và  
công dân tốt của hội.  
3. Nội dung giáo dục kĩ năng sống trong môn đạo đức  
Do đặc trưng môn học nên Đạo đức khả năng giáo dục nhiều KNS cho HS, cụ  
thể:  
- Kĩ năng giao tiếp (chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi; nói lời yêu cầu, đề nghị; bày tỏ sự  
cảm thông chia sẻ; bày tỏ ý kiến, tiếp khách đến nhà, ứng xử khi đến nhà người  
khác, khi gọi điện nhận điện thoại …)  
- Kĩ năng tự nhận thức (biết xác định đánh giá bản thân: đặc điểm, sở thích thói  
quen, năng khiếu, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân).  
- Kĩ năng ra quyết định giải quyết vấn đề (bước đầu biết lựa chọn thực hiện  
cách ứng xử đối với một số tình huống đạo đức đơn giản, phổ biến trong cuộc sống  
hàng ngày).  
- Kĩ năng tư duy phê phán (biết nhận xét, đánh giá các ý kiến, hành động lời nói,  
việc làm, các hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày đối chiếu với các chuẩn mực  
đạo đức đã học).  
- Kĩ năng hợp tác (biết cách hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh thực hiên  
các hoạt động tập thể, hoạt động cộng đồng).  
- Kĩ năng từ chối (biết cách từ chối khi bị rủ rê, lôi kéo làm những điều sai trái)  
- Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm (biết nhận thực hiện trách nhiệm của bản thân).  
4. Một số đặc điểm tâm lí của học sinh liên quan đến việc giáo dục kĩ năng sống  
cho học Tiểu học  
4.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học  
4.1.1 Nhận thức cảm tính  
4.1.1.1 Các quan cảm giác:  
7/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển đang trong quá  
trình hoàn thiện.  
4.1.1.2 Tri giác:  
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính  
không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến  
cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật  
hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có  
phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp  
xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,...)  
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới,  
mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích  
trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.  
4.1.2 Nhận thức lý tính  
4.1.2.1 duy  
duy mang đậm màu sắc xúc cảm chiếm ưu thế ở duy trực quan hành  
động.  
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang duy trừu tượng khái  
quát  
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái  
quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở  
phần đông học sinh tiểu học.  
4.1.2 2. Tưởng tượng  
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ  
mầm non nhờ bộ não phát triển vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy  
nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:  
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và  
dễ thay đổi.  
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình  
ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát  
triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn,  
vẽ tranh,.... Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh  
mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với  
các rung động tình cảm của các em.  
8/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của  
các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh cảm  
xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các  
hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận  
thức lý tính của mình một cách toàn diện.  
4.1.3. Ngôn ngữ sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học  
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt  
đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo bắt đầu  
hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển trẻ  
khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản  
thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.  
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính  
và lý tính của trẻ, nhcó ngôn ngữ cảm giác, tri giác, duy, tưởng tượng của  
trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của  
trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trta có thể đánh giá được sự phát  
triển trí tuệ của trẻ.  
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải  
trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú  
của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, thể là sách văn học, truyện  
tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,....đồng thời cũng thể kể cho trẻ nghe hoặc  
tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật  
kí,...Tất cả đều thể giúp trẻ được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.  
4.1.2.4. Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học  
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,  
điều khiển chú ý còn hạn chế. giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn  
chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có  
đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo  
xinh đẹp, dịu dàng,...Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu thiếu tính bền vững, chưa  
thể tập trung lâu dài dễ bị phân tán trong quá trình học tập.  
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của  
mình. Chú ý có chủ định phát triển dần chiếm ưu thế, ở trẻ đã sự nỗ lực vý  
chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một  
bài hát dài,...Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời  
9/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm mt vic nào đó và cố  
gng hoàn thành công vic trong khong thi gian quy định.  
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay  
bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý áp dụng  
linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể  
của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo  
dục trẻ.  
4.1.2.5. Trí nhớ sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học  
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ng- lôgic  
Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt chiếm ưu thế  
hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý  
nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa đghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay  
xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.  
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi  
nhớ chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ chủ định còn  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức  
hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em...  
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát  
hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu nội dung quan trọng  
cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ  
hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc đặc biệt phải hình thành các em tâm hứng thú  
và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.  
4.1.2.6. Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học  
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu  
của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà  
để được ông cho tiền,...) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở  
các em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã  
đề ra nếu gặp khó khăn.  
Đến cuối tuổi tiểu học các em đã khả năng biến yêu cầu của người lớn  
thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững,  
chưa thể trthành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ  
thuộc vào hứng thú nhất thời.  
10/29  
Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn đạo đức lớp 1.  
[Pick the date]  
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục  
sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ,  
thầy phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.  
4.2 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học  
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với  
các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,...Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của  
trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể trẻ dễ khóc  
cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư...  
thế thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với  
tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều.  
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn  
luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng thể xuất hiện các năng  
khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,...khi đó cần phát hiện bồi dưỡng  
kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng  
khiếu của trẻ.  
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo  
dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình  
ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm  
cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình  
huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,...  
4.3 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học  
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường  
nhà trường còn mới lạ, trẻ thể nhút nhát, rụt rè, cũng thể sôi nổi, mạnh  
dạn...Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định bền vững ở trẻ.  
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc  
điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể hồn nhiên,  
trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý  
nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các  
em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa  
được bộc lộ rệt, nếu được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lvà phát triển; và  
đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành  
nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang  
11/29  

Tải về để xem bản đầy đủ

docx 29 trang minhvan 18/02/2025 360
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Nghiên cứu một số biện pháp dạy kĩ năng sống trong dạy học môn Đạo đức Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_nghien_cuu_mot_so_bien_phap_day_ki_nang_song_trong_day.docx