SKKN Một số biện pháp nâng cao phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học trong trường mầm non Hoa Sen- Kiến Xương- Thái bình

Ngôn ngữ làphương tiện giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ 3 tuổi. Trẻ ở độ tuổi này rất thích nói vànói rất nhiều, trẻ tòmòthích tìm về sự vật hiện tượng xung quanh. Nhờ cóngôn ngữ mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình ảnh..của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày.
Mục lục  
Nội dung  
Trang  
PHẦN I: THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN  
1
PHẦN II: BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN  
PHẦN 3: III. MÔ TẢ BẢN CHẤT SÁNG KIẾN  
I. Tên sáng kiến  
2
2
2
3
4
6
9
9
9
II. Quá trình phát triển sáng kiến, giải pháp  
1, Quá trình phát triển sáng kiến:  
2, Quá trình thực hiện sáng kiến:  
III.Kiểm nghiệm lại sáng kiến  
1, Kết quả kiểm nghiệm  
2, Khẳng định hiệu quả của sáng kiến, giải pháp  
IV. Kết luận  
10  
Phụ lục  
1
PHẦN I: THÔNG TIN VỀ SÁNG KIẾN  
1.Tên sáng kiến : Một số biện pháp nâng cao phát triển ngôn ngữ cho trẻ  
3 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học trong trường mầm non Hoa  
Sen- Kiến Xương- Thái bình.  
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ  
3. Tác giả:  
Họ và tên: Vũ Hồng Sâm  
Ngày, tháng năm sinh:  
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm mầm non  
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường mầm non Hoa Sen  
Điện thoại:  
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%  
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến:  
Tên đơn vị: Trường mầm non Hoa Sen  
Địa chỉ: Khu Quang Trung – Thị Trấn Thanh Nê – Huyện Kiến Xương –  
Tỉnh Thái Bình.  
Điện thoại: 0363 821 655  
5. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 9 năm 2016  
2
PHẦN II: BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN  
I. TÊN SÁNG KIẾN: "Một số biện pháp nâng cao chất lượng phát triển  
ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi thông qua hoạt động LQVH trong trường mầm non  
Hoa Sen - Kiến xương - Thái Bình"  
II. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ  
III. MÔ TẢ BẢN CHẤT SÁNG KIẾN  
1. Thực trạng giải pháp đã biết.  
Dân gian ta có câu “Trẻ lên ba cả nhà học nói, hay thỏ thẻ như trẻ lên ba”  
Đúng vậy ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người đặc biệt  
trẻ mầm non. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ đến khi chập chững tập đi, tập nói,  
đến khi tập viết, biết viết, biết đọc thì ngôn ngữ chính là chiếc cầu nối, là  
phương tiện để dẫn dắt trẻ nói tiếng nói đầu tiên và là cánh cửa để mở ra chân  
trời nhận thức với bao điều kỳ diệu, lý thú mà trẻ muốn khám phá về thế giới  
xung quanh.  
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ 3  
tuổi. Trẻ ở độ tuổi này rất thích nói và nói rất nhiều, trẻ tò mò thích tìm về sự  
vật hiện tượng xung quanh. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng  
nhiều màu sắc, hình ảnh..của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày.  
Trẻ dùng ngôn ngữ để bày tỏ những nhu cầu mong muốn của mình với các thành  
viên và hay đặt ra câu hỏi với mọi người như: Tại sao? Thế nào? Vì sao?...và  
hỏi đến cùng khi không trả lời được mới thôi.  
Qua tác phẩm văn học trẻ được biết về thế giới loài vật cỏ, cây, hoa, lá, ngôi  
nhà, mảnh vườn, tiếng chim hót, ếch kêu…Ngôn ngữ còn nuôi dưỡng và phát  
triển ở trẻ ý tưởng tượng sáng tạo nghệ thuật, tình yêu con người quê hương đất  
nước, tính cảm yêu quý kính trọng ông bà cha mẹ, biết yêu thương đoàn kết với  
bạn bè, biết thế nào là ngoan. hư, tốt, xấu. Phát triển ngôn ngữ còn giúp trẻ có đủ  
vốn từ để nói năng lưu loát, diễn đạt ngắn gọn. biết sử dụng từ đúng lúc, đúng  
chỗ.  
Là cô giáo trực tiếp dạy trẻ lớp 3 tuổi tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm  
sao để ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh, chính xác đúng Tiếng Việt. Vì thế tôi  
đã dạy các con thông qua các môn học thơ, kể chuyện, ca dao, tục ngữ và dạy  
các con ở mọi lúc mọi nơi qua các hoạt động hàng ngày. Từ đó tôi thấy mình  
cần phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này, để rút ra hình thức, phương pháp phù  
hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi.  
Chính vì vậy nên tôi đã chọn đề tài: "Một số biện pháp nâng cao chất  
lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi thông qua hoạt động LQVH trong  
trường mầm non Hoa Sen - Kiến xương - Thái Bình”  
3
2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến.  
2.1. Mục đích của giải pháp.  
- Ngôn ngữ của trẻ 3 tuổi đặc biệt tăng nhanh về số lượng và chất lượng, vốn  
từ của trẻ phần lớn là những danh từ và động từ, các loại khác như tính từ, đại từ,  
trạng từ xuất hiện rất ít và được tăng dần theo độ tuổi của trẻ.  
Chúng ta cần phải cung cấp cho trẻ thêm nhiều từ mới, hướng dẫn trẻ biết  
sử dụng nhiều loại câu, bằng cách thường xuyên trò chuyện với trẻ về những sự  
vật, sự việc trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hàng ngày, nói cho trẻ biết các từ biểu  
thị về các đặc điểm, tính chất, công dụng của chúng. Cho trẻ xem tranh, kể cho  
trẻ nghe các câu chuyện, bài thơ hình ảnh minh họa. Đặt các câu hỏi cho trẻ giúp  
trẻ biết kể chuyện theo tranh bằng ngôn ngữ của trẻ. Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ,  
thông qua các câu chuyện trẻ dể dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của  
xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn.  
2.2. Nội dung của giải pháp.  
Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi thông qua hoạt động LQVH tôi đã sử  
dụng một số biện pháp sau:  
* Một là Nghiên cứu tác phẩm, xây dựng giáo án:  
Bản thân tôi luôn suy nghĩ khi lựa chọn đề tài dạy trẻ phải phù hợp với khả  
năng của trẻ. Với bất kì hoạt động thơ, hay truyện nào việc đầu tiên bao giờ tôi  
cũng phải ngiên cứu kĩ tác phẩm, xác định xem tác phẩm đó thuộc thể loại nào,  
nội dung ra sao để tìm ra mục đích yêu cầu và xây dựng giáo án logic theo một  
chủ đề để giúp trẻ nắm bắt trọn vẹn yêu cầu mà cô giáo cần truyền đạt. Ngoài ra  
tôi phải căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất, tình hình thực tế của lớp. Với từng  
chủ đề khác nhau, tôi lại lựa chọn các đề tài khác nhau sao cho hấp dẫn trẻ  
nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với chủ đề.  
VD: Khi dạy trẻ bài thơ “Em yêu nhà em” tôi chọn quay hình ảnh ngôi nhà,  
chim sẻ, hoa sen. ếch con, dế mèn  
Phần giới thiệu ( Gợi mở vào bài ) : Cho trẻ xem một số hình ảnh về ngôi  
nhà để dẫn dắt trẻ vào bài.  
Giảng nội dung bài thơ và kết hợp đàm thoại theo nội dung để trẻ hiểu vẻ đẹp  
của ngôi nhà, tình cảm của bạn nhỏ đối với ngôi nhà.  
Sau khi trẻ hiểu nội dung để khắc sâu kiến thức, phần kết thúc, tôi cho trẻ  
hát múa về ngôi nhà.  
Như vậy, từ phần giới thiệu đến phần kết thúc xoay quanh chủ đề về “Tình  
yêu ngôi nhà” do đó cả tiết học có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, không bị rời  
4
rạc giữa các phần và sự logic đó đó cuốn hút trẻ say mê hứng thú với tiết học  
hơn.  
*Hai là nghệ thuật thu hút trẻ trong giờ dạy trẻ đọc thơ, kể truyện  
Như chúng ta đă biết những câu chuyện muốn đến được với trẻ phải qua  
́
giọng kể, giọng đọc của cô giáo. Cô giáo truyền đạt tác phẩm tốt bao nhiêu thì  
trẻ sẽ cảm nhận nội dung tốt bấy nhiêu. Song có được sự tập trung chú cao của  
́
trẻ khi nghe cô đọc, kể thì cô giáo phải thực sự có nghệ thuật đọc, kể hấp dẫn.  
Nghệ thuật đọc, kể hấp dẫn ở đây là: Giọng đọc, kể phải hay, hấp dẫn, kết  
hợp cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt sao cho phù hợp với đặc tính của từng nhân vật  
trong truyện, trong từng bài thơ. Với những câu chuyện trước khi kể cho trẻ  
nghe tôi tập kể đi kể lại nhiều lần, sửa lại giọng kể của ꢀình bằng cách kể cho  
người khác nghe, ghi âm lại câu chuyện ꢀình kể để tìm ra những điểm chưa  
́
́
đúng, chưa được. Cứ như vậy qua giọng kể, toát lên được những hình ảnh động  
trong truyện và gắn ꢀình vào vai các nhân vật để thể hiện rõ sắc thái của từng  
nhân vật  
VD: Khi kể chuyên “Tích Chu” giọng bà run run, đứt quãng khi ốm, giọng  
́
Tích Chu hối hận thì hoảng hốt  
Trong khi kể cho trẻ nghe, tôi luôn căn cứ vào diễn biến tâm trạng, hành  
động của nhân vật mà thể hiện giọng điệu cho phù hợp. Có khi cùng một nhân  
vật nhưng trong bối cảnh khác nhau sắc thái, ngữ điệu được thể hiện khác nhau  
VD: Truyện “Cáo thỏ và Gà trống” : Giọng Thỏ buồn rầu, giọng của Cáo  
quát nạt, giọng của Chó nhanh nhảu, giọng của Gấu hiền từ chậm răi, , hùng  
dũng, giọng của Thỏ thể hiện mức độ thất vọng tăng dần, giọng của Gà trống  
dõng dạc, thể hiện mức độ kiên quyết tăng dần.  
Đối với thơ tôi tập đọc diễn cảm, ngâm thơ cho người khác nghe  
Do có phương pháp nghệ thuật đọc, kể hấp dẫn nên trẻ rất thích nghe cô kể  
chuyện, đọc thơ và luôn hứng thú say mê với môn học  
́
Để thu hút lôi cuốn trẻ vào giờ học tôi luôn lựa chon các hnh thức tổ chức  
phù hợp, hấp dẫn như qua tổ chức hội thi: “Bé yêu thơ”, câu đố, tꢁò chơi, bài hát,  
́
tham quan và đặc biệt là chọn những hình ảnh thật đẹp và những nhân vật ngộ  
nghĩnh, sáng tạo, hóa thân vào các nhân vật trong tác phẩm mà tôi lồng ghép  
được. Để rồi từ đó trẻ chăm chú, lắng nghe cô giới thiệu dẫn trẻ vào tiết học một  
cách nhẹ nhàng, thoải mái.  
́
VD: Khi dạy trẻ bài thơ: “Mẹ và con” tôi cho trẻ quan sát trên màn hình  
hnh ảnh cây ngô, bắp ngô để dẫn dắt vào bài hoặc với bài thơ  
́
5
Hoặc với bài thơ “Hoa kết trái” vào bài tôi dẫn trẻ đi tham quan vườn hoa  
xuân. Với câu chuyện “Củ cải trắng” tôi cho trẻ hát bài tìm bạn thân  
́
Như vậy với cách vào bài nhẹ nhàng, sinh động khác nhau đă tạo cho trẻ có  
một tâm thế, vui vẻ hào hứng khi bước vào tiết học.  
* Ba là Hệ thống câu hỏi đàm thoại:  
́
Một trong những thành công của giờ dạy trẻ làm quen văn học thì việc chuẩn  
bị hệ thống câu hỏi cũng hết sức quan trọng. “Mục tiêu của phương pháp đổi  
mới là trẻ được tích cực chủ động tham gia các hoạt động”. Nhờ có sự ham hiểu  
biết mà tư duy của trẻ phát triển nhưng làm thế nào để kích thích được hoạt động  
nhận thức và tư duy đó của trẻ.  
Mục đích của quá tꢂình đàm thoại chính là cung cấp, củng cố kiến thức cho  
trẻ. Song không phải vì thế mà chúng ta sử dụng quá nhiều câu hỏi trong cùng  
́
một hoạt động học. Tôi luôn căn cứ vào mục đích yêu câu của tiết dạy để đưa ra  
hệ thống câu hỏi với trẻ sao cho phù hợp.  
́
Dù ở hình thức nào, hệ thống câu hỏi cũng phải đảm bảo các nguyên tắc:  
Ngắn gọn, dễ hiểu, logic, phù hợp với nội dung bài thơ, câu chuyện. Với phương  
châm “Lấy trẻ làm trung tâm” tôi luôn luôn chú ý đến từng trẻ đặc biệt là trẻ yếu  
kém. Với những trẻ này, tôi đưa ra câu hỏi vừa sức khuyến khích trẻ trả lời và  
khi trẻ trả lời tôi luôn lắng nghe để sửa sai, dạy trẻ nói đủ câu, trọn nghĩa và kết  
quả cuối cùng là nhiều trẻ trả lời được câu hỏi cũng như bộc lộ những suy nghĩ  
cảm nhận của ꢀình về nội dung bài học  
Bốn là tạo môi trường và làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ.  
* Môi trường hoạt động.  
Môi trường hoạt động rất quan trọng đối với trẻ đặc biệt là môi trường phát  
triển ngôn ngữ. Khi tạo môi trường cho trẻ phát triển ngôn ngữ tôi luôn chú ý  
lựa chọn hình ảnh đẹp màu sắc hấp đẫn, tạo môi trường phải kích thích được trí  
tò mò, thích khám phá của trẻ.  
VD: Khu vui chơi với thiết bị đồ chơi mỗi thiết bị có chữ viết to, rõ ràng,  
hoặc có ký hiệu chỉ dẫn gợi ý để trẻ chơi.  
Cô giáo tạo sân khấu rối nước di động ở sân để trẻ có thể tham gia đóng kịch,  
diễn rối, chơi rối cùng nhau giúp trẻ phát triển tốt hơn về ngôn ngữ.  
* Đồ dùng trực quan  
Trước khi thực hiện giờ dạy tôi luôn xác định mục đích yêu cầu của bài dạy  
để từ đó chuẩn bị đồ dùng đồ chơi cho phù hợp.  
Trong quá trình dạy học, việc sử dụng đồ dùng trực quan là nhằm mục đích  
minh họa cho nội dung bài học, hỗ trợ cho lời kể, lời đọc của cô đạt kết quả tốt  
6
hơn. Bởi đồ dùng trực quan không bao giờ sử dụng tách biệt với lời nói. Bên  
cạnh đó, việc sử dụng đồ dùng trực quan đó gây được sự chú ý và phát triển trí  
tưởng tượng của trẻ, đồng thời nó rất phù hợp với đặc điểm tư duy của trẻ.  
Vì vậy việc sử dụng đồ dùng trực quan là rất cần thiết của môn học. Quan  
trọng là thế nhưng việc sử dụng trong tiết học thơ, truyện như thế nào cho có  
hiệu quả cao thì không phải là điều dễ.  
Tùy vào từng bài mà mà tôi chuẩn bị đồ dùng cho phù hợp như tạo cảnh, sân  
khấu rối với màu sắc tươi sáng. Và thành công nhất của tiết học là tôi đó xây  
dựng được hình ảnh liên hoàn kết hợp lời kể tôi đó ghi âm sẵn được đưa vào sử  
dụng bằng công nghệ thông tin và như đang được một bộ phim hoạt hình với  
những cảnh quay chi tiết, hình ảnh sinh động. Trẻ như cùng cô hòa mình vào  
một thế giới diệu kỳ, không gò bó, áp đặt.  
VD: Đối với truyện “Giọng hót chim sơn ca” tôi chọn cảnh chim Sơn ca  
đang chuyền cành hót say sưa, cô giáo Họa mi cùng các bạn đang đứng xem  
Sơn ca hát.  
Cùng với việc sử dụng phương tiện hiện đại tôi cũng kết hợp với đồ dùng  
truyền thống đó là tranh ảnh vật thật, đồ dùng sẵn có đặc biệt là tôi thường tận  
dụng các phế liệu hay nguyên vật liệu rẻ tiền sẵn có như: Hộp bìa cứng, vải vụn,  
giấy màu, giấy xốp, để làm những nhân vật, cây cỏ, ngôi nhà phục vụ cho tiết  
dạy và trong quá trình làm, cắt tỉa sao cho những đồ dùng đó hấp dẫn trẻ nhưng  
lại phù hợp với bài dạy và gắn liền với chủ đề.  
VD: Khi dạy kể chuyện “Củ cải trắng” túi dựng vải vụn làm rối dẹt (Thỏ con,  
Hươu con, Dê con) để kể chuyện cho trẻ nghe  
VD: Với bài thơ “Hoa kết trái” tôi sử dụng mô hinh “Vườn hoa xuân” có  
hoa cà, hoa lựu, hoa vừng, hoa mướp, hoa mận, hoa đỗ  
Hoặc với bài : “Mẹ và con” tôi chuẩn bị cây ngô thật để dạy trẻ  
Với bài thơ “Ông mặt trời” tôi làm ông mặt trời, hình ảnh mẹ và con bằng  
giấy màu để minh họa.  
Khi đó có đủ đồ dùng cho tiết học tôi luôn suy nghĩ bằng mọi cách phải khai  
thác sử dụng đồ dùng có hiệu quả, lưu ý chỗ để đồ dùng sao cho khoa học dễ sử  
dụng với cô và trẻ phải quan sát được.  
Bằng việc chuẩn bị đồ dùng phong phú về thể loại, sinh động hấp dẫn về màu  
sắc mà tiết học của tôi luôn tạo được hứng thú cho trẻ.  
*Năm là tích hợp các môn học khác:  
Để thu được kết quả một cách tối ưu những tiết dạy bên cạnh việc sử dụng  
các phương pháp đặc trưng của bộ môn tôi luôn tích hợp vào tiết dạy các môn  
7
học khácvào từng bài dạy sao cho phù hợp đúng lúc.  
Trong giờ học tôi lồng môn âm nhạc bằng cách: hát khi vào bài, hát múa  
giữa tiết học..vv  
VD: khi dạy trẻ bài thơ “Bác Hồ của em” tôi cho trẻ hát múa bài “Em mơ  
gặp Bác Hồ”  
Với đề tài kể chuyện “Qua đường” tôi cho trẻ hát bài “Đèn đỏ đèn xanh”  
hoặc bài “Em qua ngã tư đường phố”  
Có khi lại tích hợp môn toán vào trong tiết học  
VD: Khi dạy trẻ bài thơ “Hoa kết trái” tôi hỏi trẻ: Trong bài thơ có mấy loại  
hoa? Chúng ꢀình cùng đếm xem có mấy loại hoa nhé  
́
Hay trong bài thơ “Ông mặt trời” tôi hỏi: Ông mặt trời có hình ꢁì?  
́
Có những tiết tôi lồng ghép môn tạo hình  
VD: Với bài thơ “Dán hoa tặng mẹ” cuối tiết học tôi cho trẻ dán hoa  
Hoặc với bài thơ “Em yêu nhà em” tôi cho trẻ vẽ ngôi nhà  
Cuối mỗi tiết học tôi thường cho trẻ chơi những tꢁò chơi động giúp trẻ thoải  
mái khắc sâu nội dung bài học.  
VD: Sau khi dạy bài thơ “Mẹ và con” tôi cho trẻ chơi tꢂẻ chơi trò chơi ghép  
tranh nhưng sau khi dạy câu chuyện “Củ cải trắng” tôi cho trẻ chơi tꢂò chơi  
“Nhổ củ cải” tặng bạn Dê con,Hươu con, Thỏ con. (Khi chơi trẻ phải bật nhảy  
qua nhay qua ô vòng”.  
Trong quá trình dạy trẻ học tôi luôn bao quát xử lí linh hoạt, những tình  
́
huống sư phạm xảy ra. Mọi tình huống khéo léo tìm hướng giải quyết và luôn  
động viên khích lệ trẻ để trẻ tự tin hơn.  
́
Với đặc điểm của trẻ là nhanh nhớ, mau quên nên ngoài tiết học tôi cọ̀ n tạo  
điều kiện cho trẻ được học tập, rèn luyện mọi lúc, mọi nơi: Giờ đón, trả trẻ, hoạt  
động vui chơi, dạo chơi ngoài và lồng vào giờ học khác.  
Do luôn có sự tìm ꢃòi lựa chọn các biện pháp, thủ thuật sinh động, hấp dẫn  
́
phù hợp với từng bài dạy mà tôi đă thành công trong hoạt động làm quen văn  
học.  
3. Khả năng áp dụng của giải pháp.  
Với đề tài “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ  
cho trẻ 3 tuổi thông qua hoạt động LQVH”. Tôi có thể áp dụng cho toàn bộ trẻ  
3 tuổi trường mầm non Hoa Sen. Ngoài ra tôi còn có thể áp dụng rộng rãi cho  
toàn bộ trẻ 3 tuổi ở các trường mầm non trong toàn huyện.  
8
4. Hiệu quả lợi ích của giải pháp:  
Sau mộ thời nghiên cứu áp dụng đề tài. “Một số biện pháp nâng cao chất  
lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi thông qua hoạt động LQVH” áp  
dụng theo phương pháp mới lấy trẻ làm trung tâm , thể hiện cụ thể qua bảng  
như sau:  
S
Trước khi áp  
Sau khi áp  
TT  
dụng sáng kiến  
dụng sáng kiến  
Nội dung đánh giá  
Số  
lượng  
13/33  
Tỷ  
lệ %  
Số  
lượng  
27/33  
Tỷ  
lệ %  
1
Thể hiện sự thích thú với sách  
Sử dụng lời nói để trao đổi và chỉ  
dẫn bạn bè trong sinh hoạt  
Nói rõ các tiếng  
39,3  
81,8  
20/33  
60,6  
28/33  
78,7  
2
18/33  
12/33  
14/33  
54,5  
36,3  
42  
25/33  
25/33  
27/33  
75,5  
15,7  
81,8  
3
4
Không nói tục chửi bậy  
Thích vẽ,“ Viết” nguệch ngoạc  
Không nói leo, không ngắt lời  
người khác khi trò truyện  
5
6
7
8
Lắng nghe và trả lời được câu  
hỏi của người đối thoại  
21/33  
63,6  
29/33  
87,8  
Đọc thuộc bài thơ, ca dao, đồng  
dao… dành cho lứa tuổi trẻ  
15/33  
10/33  
45,5  
30,3  
31/33  
25/33  
93,9  
75,7  
Biết giọng nói, điệu bộ của từng  
nhân vật  
Qua các giờ học tôi thấy các cháu rất hứng thú, rất thích môn học tích cực  
tham gia hoạt động. qua giao tiếp ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh.  
Bằng những việc làm trên mà giờ dạy làm quen văn học của tôi luôn đạt kết  
quả tốt. Đa số trẻ hứng thú trong giờ làm quen văn học, nhiều cháu có khả năng  
đọc thơ hay, đóng kịch giỏi, tình trạng nói ngọng giảm nhiều so với đầu năm học.  
́
Thông qua bài thơ, câu chuyện giáo dục trẻ tình yêu quê hương đất nước, yêu  
quý kính trọng người thân trong gia đình biết nhường nhịn bạn bè hình thành  
những hành vi tốt xấu. Biết vận dụng ngôn ngữ để tham gia bài tập trò chơi qua  
một cách nhanh nhẹn khéo léo.  
9
- Lớp có 90% số trẻ có nói rõ ràng, nói đủ câu, không nói ngọng, nói lắp. Trẻ  
lớp tôi nhanh nhẹn hoạt bát, trẻ mạnh dạn tự tin và rất hứng thú tham gia các  
hoạt động  
5. Những người tham gia áp dụng sáng kiến  
S
T
T
Trình độ  
chuyên  
môn  
Năm Nơi công  
Chức  
danh  
ND công  
việc hỗ trợ  
Họ và tên  
sinh  
tác  
1
2
3
Cùng tham  
Đại học gia áp dụng  
sáng kiến  
MN Hoa  
Sen  
GV  
3TA1  
Nguyễn Thị Thảo 1985  
Cùng tham  
Đại học gia áp dụng  
sáng kiến  
MN Hoa  
Sen  
GV  
3TA2  
Cao Thị Yên  
1963  
1969  
Cùng tham  
Cao  
MN Hoa  
Sen  
GV  
3TA1  
Nguyễn Thị Mận  
gia áp dụng  
Đẳng  
sáng kiến  
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:  
Muốn nâng cao hiệu quả của việc tổ chức cho trẻ hoạt động trong giáo dục  
ngôn ngữ tôi nhận thấy cần một số diều kiện sau:  
* Về trình độ chuyên môn:  
Khi dạy trẻ LQVH cô giáo phải có phong thái tự tin, giọng đọc, giọng kể phải  
truyền cảm, nói đủ câu, không gò bó áp dặt trẻ, giờ học tiến hành một cách thoải  
mái phù hợp với từng độ tuổi .  
- Là một môn học đòi hỏi tính nghệ thuật cao. Vì thế cô giáo thường xuyên  
rèn luyện giọng đọc, kể sao cho diễn cảm, từ ánh mắt nét mặt, cử chỉ thu hút sự  
chú ý của trẻ.  
- Cô giáo phải nắm chắc phương pháp lấy trẻ làm trung tâm luôn tạo cơ hội  
để trẻ tham gia giờ học một cách tích cực luôn động viên khen ngợi trẻ kịp thời.  
*Về cơ sở vật chất :  
Nhà trường tạo mọi điiêu kiện về cơ sở vật chất đồ dùng giảng dạy phong  
phú đa dạng hấp dẫn.  
Trên đây là "Một số biện pháp nâng cao phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi  
thông qua hoạt động làm quen văn học trong trường mầm non Hoa Sen- Kiến  
10  
Xương- Thái bình" rất mong nhận được kiến đóng góp bổ xung của cấp trên và  
đồng nghiệp để tôi hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình.  
IV.CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP  
Tôi xin cam đoan báo cáo sáng kiến cuả của mình làm không sao chép của  
bất kỳ ai.  
Thanh Nê, ngày 02 tháng 12 năm 2016  
CƠ QUAN ĐƠN VỊ  
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN  
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN  
Vũ Hồng Sâm  
11  
pdf 11 trang minhvan 05/09/2024 6080
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học trong trường mầm non Hoa Sen- Kiến Xương- Thái bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_3.pdf