SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4

Trên cơ sở xác định một số nguyên nhân chủ yếu mà học sinh lĩnh hội kiến thức phân môn Luyện từ và câu chưa tốt, bản thân tôi hy vọng tìm ra được những phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4.
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ  
1.Lí do chọn đề tài  
Để học tốt các môn học trong chương trình Tiểu học nói chung và lớp 4  
nói riêng, ngay từ lớp 1, học sinh phải học tốt môn Tiếng Việt. Đây là giai đoạn  
quan trọng nhất , làm tiền đề để học sinh tiếp tục học lên các lớp trên.  
Mục tiêu của môn Tiếng Việt trong chương trình bậc tiểu học là:  
* Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt  
(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của  
lứa tuổi.  
* Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt những  
hiểu biết sơ giản về hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt  
Nam và nước ngoài.  
* Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen gìn giữ sự trong  
sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt  
Nam xã hội chủ nghĩa.  
Trong bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn Luyện từ và câu là một  
trong những phân môn chiếm thời lượng khá lớn. Nó tách thành một phân môn  
độc lập, vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn... song song  
tồn tại với các môn học khác. Để viết, nói, nghe hiểu, sử dụng Tiếng Việt  
thành thạo, kĩ năng thì học sinh phải biết dùng từ, đặt câu đúng, viết được  
một đoạn văn, bài văn...  
Hằng ngày việc tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, cha mẹ cũng như với mọi  
người đòi hỏi các em phải vốn ngôn ngữ đồng thời qua việc tiếp xúc đó các  
em cũng bổ sung thêm cho mình những bị thiếu hụt. Hay khi tiếp xúc với một  
tác phẩm văn học ta phải biết những từ ngữ tác giả sử dụng trong đó với dụng ý  
gì, cấu trúc câu như thế nào. Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh  
rất cần thiết và mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở  
hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức  
mới trong các môn học khác.  
Mặt khác học sinh tiểu học đối tượng năng lực tư duy còn hạn chế,  
vốn từ của các em còn nghèo nàn, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ chưa cao. Do đó  
phải làm sao nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn luyện từ và câu ở Tiểu  
học nói chung và lớp 4 nói riêng. Đây vấn đề khiến tôi rất băn khoăn trăn trở  
và thôi thúc tôi hăng say nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất  
lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4”.  
1/27  
2. Mục đích nghiên cứu  
Việc dạy học Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức to lớn trong nhà  
trường, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để đi sâu vào tìm hiểu các  
lĩnh vực khác.  
Trên cơ sở xác định một số nguyên nhân chủ yếu học sinh lĩnh hội  
kiến thức phân môn Luyện từ và câu chưa tốt, bản thân tôi hy vọng tìm ra được  
những phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao chất lượng giảng  
dạy phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4.  
3. Đối tượng nghiên cứu  
Học sinh lớp 4A1 Trường Tiểu học Phương Liệt  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Tìm hiểu vấn đề đổi mới phương pháp dạy học phân môn Luyện từ và  
câu, vận dụng để soạn giáo án thực nghiệm. Qua đó, nêu được phương pháp cần  
thiết để nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4.  
5. Phạm vi nghiên cứu  
Tìm hiểu, nghiên cứu các dạng bài cơ bản ở phân môn Luyện từ và câu  
với thực tế giảng dạy môn học đó trong trường.  
6. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp nghiên cứu luận.  
- Phương pháp thực hành.  
- Phương pháp phân tích tổng hợp.  
- Phương pháp điều tra, khảo sát.  
- Phương pháp thực nghiệm.  
- Phương pháp đàm thoại.  
2/27  
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ  
I. CƠ SỞ LUẬN  
Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 có nhiệm vụ cung cấp nhiều kiến thức  
sơ giản về Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu cho học sinh. Cụ thể  
là:  
a) Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ  
giản về từ và câu.  
b) Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu  
c) Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng nói và viết thành câu, có ý  
thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giáo tiếp.  
Phân môn Luyện từ và câu giúp các em nắm vững tiếng mẹ đẻ, tạo vốn từ  
của học sinh. Qua đó làm cho học sinh nắm vững phạm vi sử dụng chúng nắm  
được tính nhiều nghĩa sự chuyển đổi nghĩa của các từ đồng nghĩa, gần nghĩa.  
Phân môn Luyện từ và câu sẽ giúp các em hình thành căn bản về từ và câu  
Tiếng Việt để các em ứng dụng trong các phân môn khác như: Tập làm văn, Tập  
đọc…  
Như vậy để đạt được các yêu cầu trên và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao  
về nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học đòi hỏi mỗi giáo viên cần  
đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học sao cho hiệu quả.  
1. Nội dung chương trình, yêu cầu kiến thức, kỹ năng của phân môn Luyện  
từ và câu  
1.1. Nội dung chương trình  
Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 gồm 62 tiết, trong đó 32 tiết ở học kỳ I và 30  
tiết ở học kII bao gồm các chủ điểm sau:  
Học kỳ I: 5 chủ điểm  
Chủ điểm 1: Thường người như thể thương thân: "Nhân hậu - Đoàn kết''  
Chủ điểm 2: Trung thực - Tự trọng  
Chủ điêm 3: Trên đôi cánh ước mơ: ước mơ.  
Chủ điểm 4: Có chí thì nên - "ý chí - nghị lực".  
Chủ điểm 5: Tiếng sáo diều “Đồ chơi - Trò chơi.”  
Học kỳ II: 5 chủ điểm  
Chủ điểm 1: Người ta là hoa là đất- “Tài năng - Sức khoẻ”  
Chủ điểm 2: Vẻ đẹp muôn màu - Cái đẹp  
Chủ điểm 3: Những người quả cảm - Dũng cảm  
Chủ điểm 4: Khám phá thế giới “ Du lịch - Thám hiểm”  
Chủ điểm 5: Tình yêu cuộc sống - Lạc quan yêu đời.  
3/27  
1.2. Yêu cầu kiến thức  
a) Mở rộng hệ thống hoá vốn từ:  
Phân môn Luyện từ và câu lớp 4, mở rộng hệ thống hoá gồm 10 chủ điểm .  
b) Các kiến thức giảng dạy về từ và câu:  
* Từ - Cấu tạo tiếng  
- Cấu tạo từ + Từ đơn từ phức  
+ Từ ghép và từ láy  
- Từ loại  
+ Danh từ  
- Danh từ là gì?  
- Danh từ chung và danh từ riêng  
- Cách viết hoa danh từ riêng  
+ Động từ  
- Động từ là gì  
- Cách thể hiện ý nghĩa, mức độ của đặc điểm, tính chất.  
* Các kiểu câu  
+ Câu hỏi  
- Câu hỏi là gì?  
- Dùng câu hỏi vào mục đích khác  
- Phép lịch sự khi đặt các câu hỏi  
+ Câu kể  
- Câu kể là gì?  
- Cách dùng câu kể  
- Câu kể Ai là gì? ( Ai thế nào? Ai làm gì?..)  
+ Câu cầu khiến  
- Câu cầu khiến là gì?  
- Cách đặt câu cầu khiến  
+ Câu cảm  
- Trạng ngữ là gì?  
- Thêm trạng ngữ trong câu  
+ Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu  
- Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu  
- Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân, mục đích, phượng tiện trong câu  
* Các du câu: Chm hi, du chm than, du 2 chm, du ngoc kép, du ngoc  
đơn.  
1.3. Yêu cầu kỹ năng về từ và câu  
4/27  
a) Từ  
-Nhận biết được cấu tạo của tiếng  
- Giải các câu đố tiếng liên quan đến cấu tạo của tiếng  
- Nhận biết từ loại  
- Đặt câu với những từ đã cho  
- Xác định tình huống sử dụng Thành ngữ - Tục ngữ  
b) Câu  
- Nhận biết các kiểu câu  
- Đặt câu theo mẫu  
- Nhận biết các kiểu trạng ngữ.  
- Thêm trạng ngữ cho câu  
- Tác dụng của dấu câu  
- Điền dấu câu thích hợp  
- Viết đoạn văn với dấu câu thích hợp  
c). Dạy Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp  
Thông qua nội dung dạy Tiếng Việt 4, bồi dưỡng cho học sinh ý thức và thói  
quen dùng từ đúng, nói viết thành câu và ý thức sử dụng Tiếng Việt trong giao  
tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hoá.  
- Chữa lỗi dấu câu  
- Lựa chọn kiểu câu: kiến thức, kĩ năng học sinh cần đạt đuợc cũng như  
nhiệm vụ người giáo viên cần nắm vững khi giảng dạy phân môn này.  
2.Quy trình dạy Luyện từ và câu  
Dạy bài lí thuyết  
Dạy bài thực hành  
1. Kiểm tra bài cũ: (3-5')  
2. Bài mới  
1. Kiểm tra bài cũ: (3-5')  
2. Bài mới  
a. Giới thiệu bài: 1 - 2'  
a. Giới thiệu bài (1-2')  
b. Hướng dẫn thực hành (32-34')  
- Đọc và xác định yêu cầu của BT  
- Hướng dẫn 1 phần BT mẫu  
- Học sinh làm BT  
b. Hình thành kĩ năng: 10-12'  
- Giáo viên sẽ phân tích ngữ liệu  
c. Hướng dẫn luyện tập: 20 - 22'  
- Đọc và xác định yêu cầu của bài tập  
- Hướng dẫn giải 1 phần bài tập mẫu  
- Chấm chữa - nhận xét ->Chốt kiến  
thức  
- Học sinh làm bài tập  
- Chữa, chấm nhận xét -> chốt kiến  
thức  
d. Củng cố -dặn dò (2-3')  
c. Củng cố - dặn dò (2-3')  
5/27  
3. Phương pháp giảng dạy  
3.1.Phương pháp trực quan  
Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học trong đó có giáo viên sử  
dụng các phương pháp nhằm giúp học sinh có biểu tượng đúng về sự vật và thu  
nhận được kiến thức, rèn luyện kỹ năng theo nội dung bài học một cách thuận  
lợi.  
Thu hút sự chú ý và giúp học sinh ghi nhớ bài tốt hơn, học sinh có thể khái  
quát nội dung bài và phát hiện mối liên hệ của các đơn vị kiến thức.  
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát theo nội dung cần truyền đạt.  
VD: Khi dạy bài ''Đồ chơi - trò chơi'' giáo viên đưa ra 6 bức tranh trong SGK  
để tìm ra các từ ngữ chtên đồ chơi - trò chơi mà các em được mở rộng trong bài  
học.  
Bức tranh 1: học sinh tìm từ đồ chơi: diều -Trò chơi : thả diều  
Bức tranh 2: từ chỉ đồ chơi: lồng đèn/ Trò chơi: rước đèn  
Bức tranh 3: từ chỉ đồ chơi: ''dây'' , ''nồi xoong'', ''búp bê/ Trò chơi: ''nấu ăn'',  
''cho bé ăn bột'', ''nhảy dây''  
Bức tranh 4:  
……………………………….  
*Tóm lại: Sử dụng phương pháp trực quan giảng dạy phân môn Luyện từ và câu  
rất quan trong vì sẽ khai thác triệt để các kênh hình của bài học nhờ đó mà  
giáo viên giúp học sinh nắm nội dung bài tốt hơn.  
3.2. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề  
Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là giáo viên đưa ra những tình huống  
gợi vấn đề điều khiển học sinh phát hiện vấn đề hoạt động tự giác chủ động và  
sáng tạo để giải quyết vấn đề thông qua đó kiến tạo tri thức rèn luyện kỹ  
năng.  
Tăng thêm sự hiểu biết khả năng áp dụng thuyết vào giải quyết vấn đề  
của thực tiễn. Nâng cao kỹ năng phân tích và khái quát từ tình huống cụ thể và  
khả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong quá trình giải quyết vấn đề.  
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏi sao  
cho phù hợp với mục đích, yêu cầu nội dung của bài đảm bảo tính sư phạm,  
đáp ứng với các đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức để giải  
quyết vấn đhọc sinh đưa ra.  
VD: Khi dạy bài mở rộng vốn từ ''Đồ chơi - trò chơi'' Giáo viên đưa ra  
một số thành ngữ - tục ngữ sau: ''Chơi với lửa'', ''Ở chọn nơi, chơi chọn bạn'', để  
học sinh lựa chọn cách giải quyết:  
a. Nếu bạn em chơi với một số bạn hư nên học kém hẳn đi.  
6/27  
b. Nếu bạn em thích trèo lên một chỗ cao chênh vênh, rất nguy hiểm để tỏ  
ra mình gan dạ.  
Với tình huống (1) các em có thể chọn thành ngữ tục ngữ ''Ở chọn nơi,  
chơi chọn bạn''. Nhưng với tình huống (2) các em cần chọn thành ngữ "Chơi với  
lửa".  
* Tóm lại: Với phương pháp này giáo viên nên hiểu rằng trong cùng  
tình huống sẽ thể nhiều cách giải quyết hay nhất để ứng dụng trong học  
tập, trong cuộc sống.  
3.3. Phương pháp vấn đáp  
Phương pháp gợi mở vấn đáp phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra  
những kiến thức đã hoàn chỉnh hướng dẫn cho học sinh duy từng bước  
một để các em tự tìm ra kiến thức mới phải học.  
Phương pháp gợi mở vấn đáp nhằm tăng cường kĩ năng suy nghĩ sáng tạo  
trong quá trình lĩnh hội tri thức và xác định mức độ hiểu bài cũng như kinh  
nghiệm đã của học sinh. Giúp các em hình thành khả năng tự lực tìm tòi kiến  
thức. Qua đó học sinh ghi nhớ tốt hơn sâu sắc hơn.  
Yêu cầu khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn những câu hỏi theo đúng nội  
dung bài học, câu hỏi đưa ra phải rõ ràng dễ dàng phù hợp với mọi đối tượng  
học sinh trong cùng 1 lớp. Giáo viên dành thời gian cho học sinh suy nghĩ. Sau  
đó cho học sinh trả lời các em khác nhận xét bổ sung. Phương pháp này phù hợp  
với cả 2 loại bài lý thuyết thực hành  
VD: Khi dạy bài Động từ (Tuần 9) yêu cầu tối thiểu của bài là học sinh phải  
nắm được động từ là gì - Nhận biết động từ trong câu hoặc thể hiện qua tranh vẽ.  
VD:  
Anh nhìn trăng nghĩ tới ngày mai…  
Mươi mười lăm năm nữa thôi, các em sẽ thấy cũng dưới ánh trăng  
này, dòng thác nước đổ xuống làm chạy máy phát điện; ở giữa biển rộng, cờ đỏ  
sao vàng phấp phới bay rên những con tàu lớn.  
+ Hỏi: Tìm các từ chỉ hoạt động, trạng thái của anh chiến sĩ hoặc của thiếu  
nhi?  
+ Hỏi: Tìm các từ chỉ trạng thái của các sự vật:  
- Dòng thác  
- Lá cờ  
+ Hỏi: Những từ đó thuộc loại từ gì? (động từ)  
( Nếu học sinh không biết giáo viên có thể cho học sinh biết: Những từ  
chỉ hoạt động, trạng thái sự vật mà các em vừa tìm được chính là động từ.)  
7/27  
+ Hỏi: Vậy động từ là gì? (Động từ những từ chỉ hoạt động, trạng thái  
của sự vật).  
Vậy qua 4 câu hỏi gợi mcho các em đã kết thúc một khái niệm ngpháp  
nội dung của bài đề ra.  
* Tóm lại phương pháp gợi mở vấn đáp được sử dụng trong tất cả tiết học  
và phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh.  
3.4. Phương pháp phân tích  
Đây phương pháp dạy học trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn, tổ  
chức của giáo viên tiến hành tìm hiểu các dấu hiệu theo định hướng bài học từ  
đó rút ra bài học.  
Giúp học sinh tìm tòi huy động vốn kiến thức cũ của mình để tìm ra kiến  
thức mới.  
Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện kiến thức (về nội dung và hình  
thức thể hiện)  
VD: Khi dạy ''Câu hỏi Dấu chấm hỏi''  
B1: Cho học sinh tìm các câu hỏi trong bài tập đọc ''Người tìm đường lên  
các vì sao''. Các em sẽ tìm được 2 câu:  
1. Vì sao quả bóng không có cánh mà vẫn bay được?  
2. Cậu làm thế nào mà mua được nhiều sách và dụng cụ thí nghiệm như thế?  
Phân tích:  
Hỏi: Câu hỏi (1) là của ai? (Xi - ôn - cốp - xki tự hỏi mình)  
Hỏi: Câu hỏi (2) là của ai? (Bạn của Xi - ôn - cốp - xki hỏi)  
Hỏi: Dấu hiệu nào giúp em nhận ra đó là câu hỏi ? (cuối câu có dấu chấm  
hỏi) giáo viên: Khi đọc câu hỏi phải nhấn mạnh vào ý cần để hỏi.  
Qua phân tích của giáo viên, học sinh rút ra đựơc bài học:  
1. Câu hỏi (còn gọi là câu nghi vấn) dùng để hỏi về những điều chưa biết.  
VD: Bạn đã học bài chưa?  
VD: Có phải Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời không?  
VD: Chú bé đất trở thành chú Đất Nung phải không?  
VD: Bạn Hoa trở thành học sinh giỏi à?  
2. Phn ln câu hi là để hi người khác nhưng cũng có nhng câu để thi  
mình.  
VD: Chiếc bút này mình đã mua ở đâu nhỉ?  
VD: Vì sao Trái Đất lại quay nhỉ?  
VD: Thứ mấy là sinh nhất của mình nhỉ?  
3. Câu hỏi thường có các từ nghi vấn (có phải, không; phải không, à,....)  
Khi viết cuối câu hỏi dấu chấm hỏi (?)  
8/27  
VD: Có phải Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời không?  
VD: Chú bé đất trở thành chú Đất Nung phải không?  
VD: Bạn Hoa trở thành học sinh giỏi à?  
* Tóm lại: Trên đây một số phương pháp dạy học mà tôi áp dụng trong giảng  
dạy phân môn Luyện từ và câu. Tuy nhiên tôi cũng nhận thấy rằng không có một  
phương pháp dạy học nào là tối ưu. Mỗi phương pháp thường mặt mạnh -  
mặt yếu của mặt mạnh của phương pháp này sẽ hỗ trợ cho mặt yếu của  
phương pháp kia. Cho nên để tránh nhàm chán cần phối kết hợp nhiều phương  
pháp giảng dạy phù hợp với nhiều đối tượng học sinh. Có như vậy tiết học mới  
đạt kết qucao.  
II.CƠ SỞ THỰC TIỄN  
1. Thuận lợi  
a. Giáo viên:  
Đội ngũ giáo viên yêu nghề, năng lực sư phạm.Nhà trường luôn tạo điều  
kiện cho việc tiếp thu các chuyên đề.  
đầy đủ SGK, sách hướng dẫn được học về sử dụng các phương tiện dạy  
học hiện đại.  
Phân môn Luyện từ và câu của lớp 4 nhìn chỉ rõ 2 dạng bài: Bài lý thuyết và  
bài tập thực hành, thuận lợi cho việc giảng dạy.  
b. Học sinh:  
- Nhìn chung học sinh ngoan, có ý thức học tập, nhiều em học rất say mê.  
- Học sinh đã quen với phương pháp học tập từ lớp 1,2,3 nên các em đã biết  
cách lĩnh hội luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên.  
- Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng  
môn học nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.  
2. Khó khăn  
a. Giáo viên:  
- Thời gian dành cho việc nghiên cứu bài của nhiều giáo viên chưa được coi  
trọng, chưa phân chia kiến thức thành các mảng để dạy cho học sinh.  
- Nhiều giáo viên lập kế hoạch bài học chưa thật cụ thể, chưa hướng dẫn kĩ sự  
chuẩn bị bài cho học sinh, chưa có ý thức tự học để tìm hiểu và nâng cao kiến  
thức cho bản thân mình nên nhiều lúc cũng không hiểu hết dụng ý của sách giáo  
khoa, đào chưa sâu kiến thức sách giáo khoa.  
b. Học sinh:  
+ Năng lực học tập của học sinh trong lớp không đồng đều làm ảnh hưởng  
đến thời gian lĩnh hội tri thức của cả lớp.  
9/27  
+ Đa số các em tiếp thu bài học một cách thụ động, chưa phương pháp học  
tập một cách đúng đắn, sự chuẩn bị bài chưa chu đáo,Nếu Giáo viên có dẫn dắt,  
tổ chức dạy học theo hướng đổi mới thì hiệu quả học tập cũng chưa cao, chưa  
phát huy được năng lực học của các đối tượng học sinh.  
+ Trong giờ học , học sinh chưa thật mạnh dạn phát biểu ý kiến của mình,  
còn sợ sai, sợ các bạn cười,… bởi vậy năng lực học của các em chưa được bộc  
lộ, nếu Giáo viên sợ mất thời gian không để ý đến thì càng học các em càng  
chán, càng không hiểu bài. Một số em khác hầu như không trả lời được các câu  
hỏi trong bài vì thiếu sự chuẩn bị bài nhà.  
+ Học sinh lười tư duy, không có tính chịu khó, không ham học, có tính ỷ lại  
cho thầy cô, cho bố mẹ; thậm chí có em còn ngại đến trường, xác định đến  
trường để bạn chơi chứ chưa xác định đến để học, nếu giáo viên mà ép học  
thì chỉ học một cách bắt buộc mà thôi.  
c. Các yếu tố khác liên quan:  
Mt sphhuynh chưa thc squan tâm đến con em mình còn có quan đim '' trăm  
snhnhà trường, nhcô'' cũng làm nh hưởng đến cht lượng hc tp bmôn.  
- Để học tốt được TiếngViệt đòi hỏi học sinh phải luyện tập cả quá trình lâu  
dài bền bỉ nếu không có năng khiếu.  
III.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ  
1.Đối với giáo viên:  
- Phân môn Luyện từ và câu là phần kiến thức khó nên một số giáo viên còn  
lung túng và gặp khó khăn trong khi hướng dẫn học sinh nắm được yêu cầu và  
vân dụng vào việc làm các bài tập.  
- Một số giáo viên chưa chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác  
kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp cho học sinh còn phụ thuộc vào đáp  
án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này.  
- Một số giáo viên chưa quan tâm đến mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ cho học  
sinh giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt.  
2. Đối với học sinh  
- Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân môn  
Luyện từ và câu nên ít có hứng thú học tập, chưa dành nhiều thời gian để học  
môn này.  
- Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu… Từ đó việc nhận diện  
phân loại, xác định hướng làm bài còn nhầm lẫn.  
- Học sinh thường nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và không tỏ ra  
yếu kém.  
10/27  
- Học sinh chưa có thói quen phân tích giữ kiện của đề bài, thường hay bỏ sót,  
làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đbài.  
3. Kết quả khảo sát  
Trong quá trình day học, sau khi học bài: “Từ đơn từ phức”, SGKTV4-  
trang 27. Tôi đã tiến hành khảo sát đầu năm vào cuối tháng 9 với bài ''Từ đơn  
từ phức từ '' cho học sinh lớp 4A1 kết quả thu được như sau:  
Lớp Sĩ số  
4A1 42  
Hoàn thành tốt  
Hoàn thành  
23 - (54,8%)  
Chưa hoàn thành  
18 - (42,9%)  
1 - (2,3%)  
Sau khi khảo sát chất lượng học sinh hoàn thành còn nhiều số học sinh hoàn  
thành tốt chưa cao.  
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY  
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4  
Để thể thực hiện các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của phân môn luyện từ và  
câu, trong quá trình giảng dạy tôi đã đúc kết được một số biện pháp sau:  
1.Biện pháp 1: Lập kế hoạch bài học.  
*Mục tiêu  
Giáo viên đưa ra nội dung kiến thức, quy trình và yêu cầu cần đạt của bài học.  
*Giải pháp  
- Giáo viên tạo ra cho mình một cẩm nang cho việc dạy học.  
-Việc lập kế hoạch bài học của giáo viên phải logic, tích hợp đầy đủ các nội  
dung dạy học ở trong đó phải đầy đủ mục đích, yêu cầu cũng như qui trình  
một bài dạy sao cho phù hợp, hoạt động người dạy, người học.  
- Khi lập kế hoạch bài học, giáo viên phải đặt ra những tình huống trong giờ dạy  
ngoài dự kiến của mình để thể kịp thời xử lý, đồng thời tạo cho giờ học sinh  
động, hấp dẫn.  
2.Biện pháp 2 : Chuẩn bị đdùng.  
*Mục tiêu  
Giáo viên và học sinh phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trong bài học như bảng  
phụ, hình ảnh trực quan, phiếu học tập……phục vụ cho bài học.  
*Giải pháp  
Dạy học theo phương pháp mới hiện nay đòi hỏi giáo viên phải năng động,  
sáng tạo tìm tòi học hỏi để làm tăng hiệu quả giờ dạy đồng thời nâng cao chất  
lượng học tập của học sinh. Vì vậy việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cho mỗi bài  
dạy là khâu quan trọng, mỗi bài yêu cầu mỗi loại đồ dùng riêng như : Phiếu học  
tập, bảng phụ, hình ảnh trực quan, băng đĩa hình, vi đeo clip..… đồ dùng dạy  
học sẽ đóng góp phần lớn cho hiệu quả cũng như thành công của tiết dạy.  
11/27  

Tải về để xem bản đầy đủ

doc 30 trang minhvan 26/02/2025 330
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_giang_day_phan_mon.doc