SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu Lớp 2
Luyện từ và câu là một phân môn của môn Tiếng Việt nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức đơn giản các loại câu trong Tiếng Việt cũng như mở rộng vốn từ cho các em. Trong chương trình Tiểu học, cùng với các môn học khác, phân môn Luyện từ và câu trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về bậc học, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách toàn diện của con người.
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN THANH XUÂN
--------------
Mã SKKN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2
Lĩnh vực/Môn : Tiếng Việt
Năm học: 2015-2016
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Luyện từ và câu là một phân môn của môn Tiếng Việt nhằm cung cấp
cho học sinh những tri thức đơn giản các loại câu trong Tiếng Việt cũng như mở
rộng vốn từ cho các em. Trong chương trình Tiểu học, cùng với các môn học
khác, phân môn Luyện từ và câu trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về
bậc học, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách toàn diện của con người.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền giáo dục nước nhà, chương trình
giáo dục bậc Tiểu học đã thực hiện đổi mới SGK và nội dung chương trình dạy
học ở các lớp, các môn học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng. Chương
trình đã được xây dựng theo quan điểm tích hợp. Quan điểm này hoàn toàn phù
hợp với quy luật nhận thức của con người: Từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng.
Thực hiện mục tiêu đổi mới phân môn Luyện từ và câu, người giáo viên
phải đổi mới dạy học sao cho người học sinh phải là người chủ động nắm bắt
kiến thức, từ đó chiếm lĩnh nội dung của bài học, môn học.
Nhận thức được tầm quan trọng của phân môn này, tôi đã có một số biện
pháp dạy luyện từ và câu để giúp học sinh đạt được mục tiêu bài học một cách
nhẹ nhàng, thoải mái. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng
cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 2”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn
Luyện từ và câu lớp 2 ở trường Tiểu học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Một số biện pháp tổ chức trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy học
phân môn Luyện từ và câu lớp 2 ở trường Tiểu học.
- Học sinh lớp 2 rường Tiểu học.
1/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
PHẦN II:
NỘI DUNG
1. Một số vấn đề lý luận về dạy Luyện từ và câu.
Chương trình Tiếng Việt 2 với chủ trương “Hình thành và phát triển ở học
sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao
tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”. Chương trình Tiếng Việt 2
không dạy lý thuyết ngôn ngữ học mà chủ yếu dạy học sinh kỹ năng sử dụng
Tiếng Việt, coi trọng khả năng vận dụng Tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp.
Phân môn Luyện từ và câu đã thể hiện rõ tính chất này.
Luyện từ và câu là tên gọi một hợp phần trong môn Tiếng Việt 2 chương
trình Tiểu học gồm 31 bài dạy trong 31 tiết đã được thực hiện đại trà từ năm học
2003-2004. Hợp phần này là một hệ thống các bài tập luyện từ và luyện câu
nhằm cung cấp cho học sinh tri thức sơ giản về loại câu Tiếng Việt cũng như mở
rộng vốn từ cho các em. Do vậy việc xem xét hệ thống bài tập trong hợp phần
này sẽ cho phép chúng ta nhận ra:
+ Cấu trúc tri thức Tiếng Việt cần hình thành cho người học.
+ Nguyên tắc phát triển tri thức và vốn từ Tiếng Việt cho người học.
Nhờ vậy, chúng ta hiểu biết đầy đủ hơn về chương trình dạy Luyện từ và
câu ở lớp 2, tạo cơ sở định hướng chọn lọc phương pháp, phương tiện dạy học
thích hợp, thực hiện một cách hệ thống và hiệu quả các bài dạy.
Đối với học sinh lớp 2, ngay từ tên gọi của phân môn: Luyện từ và câu
đã thể hiện tính thực hành của chương trình. Đúng như tên gọi của phân môn,
đây hoàn toàn là các bài tập thực hành, thực hành luyện cách sử dụng từ và câu.
Học sinh không cần quan tâm đến các thuật ngữ có tính chuyên ngành ngôn ngữ
học mà chỉ chú trọng thực hiện các bài tập thực hành. Kiến thức Tiếng Việt hình
thành thông qua các bài tập thực hành.
a) Cấu trúc tri thức Tiếng Việt lớp 2 phân môn Luyện từ và câu.
- Mở rộng vốn từ và kiến thức về từ loại.
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 tập 1 hướng dẫn học sinh tìm các từ chỉ một
loại đặc điểm, tính chất, trạng thái, hoạt động… nội dung trình này cung cấp cho
học sinh biểu biết ban đầu về từ loại Tiếng Việt. Tuy nhiên chưa để các em sử
dụng các thuật ngữ như: danh từ, động từ, tính từ. Tri thức Tiếng Việt trong các
bài tập tìm từ ngữ như thế này có tác dụng khơi gợi kinh nghiệm ngôn ngữ đã có
của học sinh, giúp các em nắm bắt tri thức về từ loại Tiếng Việt trên cơ sở ý
thức và hệ thống hóa vốn từ vựng mà mình có. Việc cung cấp tri thức từ loại
2/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
được thực hiện tích hợp với hoạt động mở rộng vốn từ (MRVT). Bên cạnh các
bài tập tìm từ loại này xen kẽ những bài tập như MRVT theo chủ đề về họ hàng,
về người thân, về đồ dùng học tập… các chủ đề cụ thể và gần gũi với kinh
nghiệm của học sinh.
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 hướng dẫn học sinh tìm về một chủ đề có
tính khái quát (tìm từ nói về thời tiết, ngày tháng, loài chim, về cây cối, về nghề
nghiệp…) đặc biệt các bài tập MRVT ở bài tập 2 này tạo điều kiện cho học sinh
bước đầu rèn các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, cụ thể hóa cho những
loại, đặc điểm khái quát thao tác phân loại và khái quát. Đó là những bài tập:
+ Tìm từ theo thuộc tính phân tầng của một loại. Ví dụ như tìm về một
loài chim theo đặc điểm về hình dáng, tiếng kêu và cách kiếm ăn. Nêu từ nói về
loài thú theo tính chất nguy hiểm hoặc không nguy hiểm.
+ Loại trừ những từ không cùng loại đã gợi. Ví dụ như tìm từ không
cùng một nhóm từ, tìm từ ngữ có chứa tiếng “biển” bài 1 tuần 25.
+ Phân loại đối tượng sự vật (từ) theo những tiêu chí cụ thể như: xếp
từ vào nhóm mùa xuân, hạ, thu, đông.
+ Nhóm từ theo loại đã gợi ý có kèm tranh như: xếp từ chỉ đặc điểm
dựa vào tranh tiết luyện từ và câu tuần 17, nói tên các loài chim bài 1 tuần 22.
- Kiến thức về câu:
(Kiểu câu, thành phần câu, dấu câu) tri thức về câu được tiếp nhận tích
hợp với tri thức về một từ loại qua các bài tập: hoàn thành câu bằng cách điền
vào chỗ trống với một từ chỉ hoạt động, tính chất… đặt câu theo tranh, đặt câu
hỏi theo chủ đề, dùng những từ của một câu để viết thành nhiều câu khác nhau,
dùng những từ dời xếp lại thành câu…
Kiến thức về câu được tiếp nhận tích hợp với kiến thức về các bộ phận
của câu qua bài tập: Dựa vào một bộ phận in đậm trong câu cho sẵn tìm một bộ
phận nào trong câu trả lời cho một từ để hỏi.
Kiến thức về dấu câu được tiếp nhận tích hợp với kiến thức về kiểu câu
qua các bài tập sử dụng dấu câu.
b) Nguyên tắc phát triển tri thức và mở rộng vốn từ Tiếng Việt thể
hiện qua hệ thống bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2.
Ẩn sâu cấu trúc là hệ thống tri thức từ và Tiếng Việt, cũng như hệ thống
các bài tập mở rộng vốn từ, chúng ta có thể nhận ra nguyên tắc phát triển tri thức
và mở rộng vốn từ Tiếng Việt trong hợp phần Luyện từ và câu như sau:
- Khai thác kinh nghiệm ngôn ngữ và mở rộng vốn từ của người học:
Những bài tập gọi tên sự vật (vật, người, việc, đồ vật) dựa theo tranh, hay
tìm từ gợi ý như từ chỉ đồ đùng học tập, từ chỉ hoạt động, từ chỉ trạng thái, chỉ
3/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
đặc điểm… hay những bài tập MRVT theo chủ đề quan hệ họ hàng, gia đình,
công việc trong nhà... đến những chủ đề khái quát như muông thú, cây cối, sông
biển… Chính là thể hiện hướng dạy học đi từ việc giúp đỡ học sinh khai thác
vốn từ tiếng mẹ đẻ, đến việc hệ thống chúng dựa vào bộ nhớ của não và luôn
luôn mang ra sử dụng.
- Giúp người học:
MRVT một cách chủ động, hệ thống. Nếu so sánh với các bài dạy Từ
ngữ lớp 2 của chương trình cải cách giáo dục, chúng ta dễ nhận thấy một điểm
khác biệt của bài tập MRVT theo chủ đề của Chương trình Tiểu học 2000 là
không cho sẵn bảng từ với các loại từ ngữ: danh từ, động từ, tính từ, thành ngữ.
Điều này cho thấy rằng số từ ngữ mà học sinh lĩnh hội trong các bài tập MRVT
ở chương trình này không chỉ là những từ ngữ do giáo viên cung cấp mà quan
trọng hơn là những từ ngữ tiềm tàng trong trí óc các em. Và mức độ chủ động
tìm tòi, khám phá, mở rộng của người học tùy thuộc vào nghệ thuật sư phạm của
từng giáo viên.
- Giúp người học tiếp nhận tri thức Tiếng Việt một cách thích hợp và sử
dụng một cách phù hợp tự nhiên.
Các tri thức về từ loại, dấu câu về bộ phận câu và vốn từ mà học sinh lĩnh
hội được trong các bài Luyện từ và câu đều được tiếp nhận qua các bài tập nhận
diện kiểu câu và sử dụng câu.
Cách tích hợp như thế tạo điều kiện cho người học vận dụng một cách
uyển chuyển và tự nhiên những kiến thức ngông ngữ mà mình có được vào
những ngữ cảnh cụ thể, nhất là trong môi trường giao tiếp xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của phân môn, thấy được những đặc
thù của môn học, cùng với những thuận lợi và khó khăn cơ bản. Tôi đã
mạnh dạn tiến hành một số biện pháp giúp học sinh học tập đạt hiệu quả.
2. Thực trạng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu ở trường tiểu học.
Mục đích và yêu cầu chung của việc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy
Luyện từ và câu nói riêng là rèn luyện cho học sinh sử dụng thành thạo 4 kỹ
năng (Nghe – Nói - Đọc – Viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường
hoạt động của lứa tuổi. Mà phân môn Luyện từ và câu đã thể hiện rất rõ tính
thực hành của chương trình Tiếng Việt 2.
a. Thực trạng dạy học của giáo viên:
Qua thực tiễn dạy học, dự giờ thăm lớp và trao đổi với đồng nghiệp cùng
với sự hiểu biết của bản thân. Tôi nhận thấy khi dạy Luyện từ và câu giáo viên
đã đạt được những yêu cầu sau:
4/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
- Về mặt kiến thức: Giáo viên đã truyền thụ đúng, đủ các nội dung của
bài học cho mọi đối tượng học sinh.
- Về mặt phương pháp: Giáo viên cần có sự phối hợp hài hòa về phương
pháp dạy để làm rõ nội dung trọng tâm của bài.
b. Thực trạng học của học sinh:
Đa số học sinh nắm được yêu cầu cơ bản của từng bài tập, từng tiết học.
Học sinh đã được thực hành luyện tập thông qua các bài tập thực hành, thực
hành luyện sử dụng từ và câu, kỹ năng sử dụng Tiếng Việt vào trong mọi hoạt
động giao tiếp phù hợp với môi trường hoạt động của lứa tuổi. Các em có nhiều
hứng thú đối với môn học này.
Song vẫn còn một số em còn nhút nhát, chưa tự tin vào chính mình. Kỹ
năng sử dụng Tiếng Việt (Nghe – Nói - Đọc – Viết) của các em còn chưa tốt.
Khi thực hành các bài Luyện từ và câu còn nhiều khó khăn, bỡ ngỡ.
Năm học 2015-2016 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2. Ngay từ đầu
năm học, khi học được 4 tuần tôi đã bắt tay ngay vào việc tìm hiểu và điều tra khảo
sát chất lượng để phân loại chất lượng học sinh. Kết quả thu được như sau:
a) Về kết quả phần làm giàu vốn từ.
Tìm từ
Tìm từ theo
Tạo từ
Phân loại từ
theo tranh
chủ đề
TSHS
60
Chưa
Tốt
Chưa
Tốt
Chưa
Tốt
Chưa
Tốt
tốt
35
tốt
20
tốt
28
tốt
30
25
30
32
30
60%
40%
34%
66%
47%
53%
50%
50%
b) Về kết quả phần câu và luyện câu.
Hoàn thành
câu
Tạo lập câu
Sử dụng
dấu câu
Tạo lập câu Biến đổi câu
hỏi
TSHS
60
Chưa Tốt Chưa Tốt Chưa Tốt Chưa Tốt Chưa Tốt
tốt
25
tốt
15
tốt
10
tốt
20
tốt
10
35
45
50
40
50
42%
58%
25%
75%
17%
83%
34%
66%
17%
83%
Thấy được tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu và tính đặc thù
của môn học, tôi đã nghiên cứu và trao đổi thảo luận với bạn bè đồng nghiệp
cùng xây dựng từng hoạt động, biện pháp dạy Luyện từ và câu nhằm nâng cao
chất lượng giờ dạy và học tập có hiệu quả đối với học sinh giúp cho các em
hứng thú trong giờ học tập và tiết học nhẹ nhàng, thoải mái tích cực và hiệu quả.
Để đạt được điều này tôi đã bắt tay vào tìm hiểu nội dung chương trình phân
5/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
môn Luyện từ và câu và đưa vào các biện pháp, phương pháp cụ thể đối với
từng dạng bài.
3. Đề xuất các biện pháp dạy phân môn Luyện từ và câu theo các
dạng bài tập cụ thể.
3.1. Các dạng bài tập làm giàu vốn từ:
a. Tìm từ bằng cách dựa vào các tranh ảnh cho sẵn, đi từ nhận diện,
gọi tên cụ thể đến phân loại khái quát. Với loại bài tập này, là một giáo viên
trực tiếp đứng lớp giảng dạy để cung cấp vốn từ cho học sinh tôi đã thực hiện
như sau:
* Ví dụ 1: Tuần 1: chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi sự vật, mỗi việc được
vẽ trong tranh.
Trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập:
- Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc được vẽ dưới đây:
(học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo)
M: 1. trường
5. hoa hồng
6/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
+ 8 bức tranh trong sách giáo khoa vẽ người, vẽ vật hoặc việc. Bên cạnh
mỗi bức tranh có số thứ tự. Em hãy chỉ tay vào các số thứ tự ấy và đọc lên (1, 2,
3, 4, 5, 6, 7, 8).
+ 8 bức tranh vẽ có 8 tên gắn với một vật hoặc một việc được vẽ trong
tranh. Em hãy đọc tên 8 tên gọi (được đặt sẵn trong ngoặc đơn).
+ Em cần xem tên gọi nào là của người, vật hoặc việc.
Sau đó giáo viên tiến hành đọc tên gọi của từng người, vật hoặc việc. Học
sinh chỉ tay vào tranh vẽ người, vật hoặc việc đọc số thứ tự của tranh ấy lên (thí
dụ: số 1; trường; số 2: học sinh…). Học sinh từng nhóm (nhóm đôi) trao đổi bài
tập như một trò chơi. Học sinh đổi vai thực hiện bài tập.
Học sinh phát hiện từ gắn với tranh sau đó học sinh đổi vai nói tên từ phù
hợp với tranh chính là giúp học sinh đi từ cụ thể và thông qua hình thức trò chơi
để củng cố, khắc sâu kiến thức chính là một hình thức giúp học sinh hiểu bài
nhưng không bị gò bó, kiến thức dễ khắc sâu.
Như vậy thông qua bài tập đã hình thành kỹ năng: Tìm, chọn từ
thích hợp cho mỗi tranh, mỗi người, vật hoặc việc nhằm khai thác và mở
rộng vốn từ cho học sinh, học sinh đã biết dựa vào các tranh ảnh cho sẵn, đi
từ nhận diện đến gọi tên cho từng tranh vẽ.
* Ví dụ 2: Tuần 3:
- Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối,…) được vẽ dưới đây:
7/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
Sau khi tổ chức cho học sinh tìm được những từ thích hợp với từng tranh
cho sẵn. Giáo viên cần củng cố cho học sinh nêu được:
+ Từ chỉ người: Bộ đội, công nhân.
+ Từ chỉ đồ vật: ô tô, máy bay
+ Từ chỉ con vật: Voi, trâu
+ Từ chỉ cây cối: Dừa, mía
Tìm từ dựa vào tranh chính là nhận thức của học sinh đi từ trực quan sinh
động để phát hiện từ phù hợp.
Sau đó cần khái quát cho học sinh thấy rằng: những từ chỉ người, đồ vật,
con vật, cây cối… là những từ chỉ sự vật.
Như vậy bằng cách dựa vào các tranh ảnh có sẵn, giáo viên đã giúp học
sinh đi từ nhận diện từ đến gọi tên cụ thể đến phân loại và khái quát hóa vốn từ.
Với cách làm này có tác dụng khơi gợi kinh nghiệm ngôn ngữ đã có của học
sinh, giúp các em nắm bắt tri thức về từ loại Tiếng Việt trên cơ sở ý thức và hệ
thống hóa vốn từ mà mình đã có. Học sinh có những hiểu biết ban đầu về từ loại
Tiếng Việt.
b. Bài tập tìm từ dựa theo một chủ đề:
- Những bài tập tìm từ dựa theo một chủ đề chính là mở rộng vốn từ cho
học sinh, là thể hiện hướng dạy học đi từ việc giúp học sinh khai thác vốn từ
tiếng mẹ đẻ đến việc hệ thống hóa chúng, phân loại chúng đưa chúng vào bộ
não. Khi thực hiện bài tập dạng này, giáo viên cần phải giúp học sinh tự mình
huy động những vốn từ sẵn có, sự hiểu biết của bản thân trong cuộc sống sinh
hoạt hàng ngày, vận dụng để hoàn thành nội dung bài tập.
Ví dụ: Đối với bài tập 3 – Tiết Luyện từ và câu tuần 6 (Tiếng việt 2 –
trang 52). Giáo viên giúp học sinh mở rộng vốn từ: Từ ngữ về học tập.
Hình ảnh minh họa:
- Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong tranh sau. Cho biết mỗi đồ vật ấy
được dùng để làm gì.
8/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
Giáo viên hướng dẫn học sinh phải quan sát kỹ bức tranh, phát hiện các
đồ dùng học tập ẩn rất khéo trong tranh, gọi tên và nói rõ đồ vật được dùng để
làm gì.
Bằng phương pháp sư phạm, giáo viên kích thích ở học sinh tính tò mò,
tìm tòi sáng tạo, sự tinh nhanh học sinh sẽ phát hiện tinh không bỏ sót một đồ
vật nào trong tranh bằng cách:
Giáo viên tổ chức cho các nhóm học sinh quan sát tranh và thi tìm xem
nhóm nào tìm được nhiều, đủ, đúng các đồ vật trong trang nhất. Sau đó gọi từng
nhóm lên trình bày kết quả của nhóm mình. Giáo viên và học sinh nhận xét và
tuyên dương nhóm thắng cuộc.
Như vậy thông qua bài tập đã cung cấp cho học sinh những vốn từ rất gần
gũi đối với các em ngay trong cuộc sống học tập. Học sinh chủ động tìm và làm
giàu thêm cho “kho từ” của mình.
c. Phương pháp tạo từ:
Đó chính là ghép tiếng thành từ, tạo các từ có cùng một tiếng mẫu gợi ý.
Loại bài tập này với mục đích là làm giầu vốn từ, làm phong phú thêm vốn từ
cho học sinh. Từ đó học sinh biết vận dụng vốn từ đó vào trong cuộc sống hàng
ngày của mình.
Với dạng bài tập này, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi đã mở rộng
vốn từ cho học sinh bằng cách như sau:
Cụ thể với bài tập 1 – tiết Luyện từ và câu tuần 2 (Tiếng Việt 2 tập 1 trang
17). Giáo viên cần giúp học sinh hiểu yêu cầu bài: Tìm các từ ngữ có tiếng
“học” , tiếng “tập”. Tìm được càng nhiều càng tốt.
Các em có thể tìm từ có tiếng “học”, tiếng “tập” đứng trước hoặc đứng
sau đều được.
Sau đó mời 2 học sinh lên bảng làm: Một em tìm từ có tiếng “học” , một
em tìm từ có tiếng “tập”. Học sinh khác làm vở.
Giáo viên cùng với cả lớp nhận xét bài làm trên bảng, bổ sung từ ngữ.
Với bài tập này, học sinh có thể đưa ra một số cụm từ chứ không phải từ.
9/22
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2
Ví dụ: học bài, học việc, tập đi… trong trường hợp này vẫn chấp nhận. Vì
ở Tiểu học chưa đặt vấn đề phân biệt từ với cụm từ, đồng thời tiếng “học” và
“tập” ở đây vẫn cùng nghĩa với “học” và “tập’ trong các từ “học tập”, “học
hành”. Với các từ mang nghĩa khác thì không chấp nhận. Ví dụ: Tập sách, tập
tễnh…
Với cách làm như vậy, học sinh đã tạo được rất nhiều từ, từ một tiếng
theo mẫu và đã làm cho vốn từ của học sinh giàu lên một cách nhanh chóng.
d. Phương pháp phân loại từ theo trường nghĩa: Đó là những bài tập dạng:
+ Loại trừ những từ không cùng loại đã gợi ý.
+ Phân loại đối tượng sự vật theo tiêu chí cụ thể (Tiếng Việt tập 2 – Tr27)
+ Nhóm từ theo loại từ đã gọi ý có kèm tranh (Tiếng Việt tập 2 – Tr73)
Các loại bài tập này tạo điều kiện cho học sinh bước đầu rèn luyện các
thao tác tư duy cơ bản như phân tích, cụ thể hóa cho những loại, đặc điểm khái
quát, thao tác phân loại và khái quát)
Với loại bài tập này, tôi đã thực hiện như sau:
Ví dụ minh họa:
Xếp tên các loài chim cho trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp:
a) Gọi tên theo hình dáng.
b) Gọi tên theo tiếng kêu.
c) Gọi tên theo cách kiếm ăn.
M: chim cánh cụt
M: tu hú
M: bói cá
(cú mèo, gõ kiến, chim sâu, cuốc, quạ, vàng anh)
Ví dụ: Bài tập 1 – tuần 21.
Để giúp học sinh xếp tên các loài chim đã cho vào nhóm thích hợp theo
mẫu. Giáo viên cần cho học sinh thấy được những đặc điểm cơ bản của từng loài
chim bằng cách giáo viên mô tả thêm về hình dáng, tiếng kêu, cách kiếm ăn của
từng loài chim bằng cách sau khi học sinh đọc đề bài, hiểu yêu cầu của bài tôi
cho chiếu video clip về tên 3 loài chim mẫu đồng thời chú ý về cách kiếm ăn,
hình dáng, tiếng kêu để học sinh phát hiện, xếp vào nhóm thích hợp. Sau khi học
sinh đã hoàn thành bài tập, tôi sẽ mở rộng vốn từ bằng cách cho học sinh xem
video clip có thuyết minh một số loài chim khác. Từ đó học sinh sẽ có những
thao tác tư duy cơ bản, sự tự phân loại theo những tiêu chí cụ thể và học sinh sẽ
hoàn thành bài tập một cách có hiệu quả. Đồng thời thông qua bài tập đã mở
rộng vốn hiểu biết cho các em về đặc điểm cơ bản của từng loài chim, tạo hứng
thú cho học sinh trong học tập.
Tôi chọn hình thức cho học sinh xem video clip để học sinh thấy được
hình ảnh động giúp học sinh hiểu bài có tính cụ thể. Học sinh không phải tưởng
10/22
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_day_hoc_phan_mon_l.doc