SKKN Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học sinh Lớp 1 trong các tiết tập đọc

Trong những năm vừa qua, chúng ta đã thực hiện thành công việc áp dụng “Đổi mới chương trình sách giáo khoa” và “ Đổi mới phương pháp dạy học” ở tất cả các trường trong cả nước.
Së gi¸o dôc vµ ®µo t¹o hµ néi  
---------------  
Mã SKKN  
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm  
MéT Sè biÖn ph¸p LUYÖN §äC §óNG  
CHO HäC SINH LíP 1 TRONG C¸C TIÕT TËP §äC  
LÜnh vùc/M«n: TiÕng ViÖt  
CÊp häc  
: TiÓu häc  
N¨m häc: 2016-2017  
PHẦN A. §Æt vÊn ®Ò  
I. Lý do chän ®Ò tµi:  
Trong những năm vừa qua, chúng ta đã thực hiện thành công việc áp dụng  
“Đổi mới chương trình sách giáo khoa” và “ Đổi mới phương pháp dạy học” ở tất  
cả các trường trong cả nước. Việc đổi mới toàn diện này đã làm chất lượng giáo  
dục của các trường được nâng cao một cách rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng  
của nền giáo dục nước nhà. Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt chiếm  
tầm quan trọng rất lớn. Nó có nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó là hình thành 4 kỹ  
năng: Nghe Nói - Đọc - Viết cho học sinh. Trong cuộc sống hằng ngày, nếu  
không biết đọc thì con người không thể tiếp thu được nền văn minh của loài người.  
Đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Đây là một  
phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và  
phát triển cho học sinh kĩ năng đọc- Một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh  
ở Tiểu học. Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi  
chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi  
là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt viết tốt thì các em mới có thể  
tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn thành  
được năng lực giao tiếp của mình. Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có.  
Nhà trường phải từng bước hình thành và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên  
gạch đầu tiên. Nên việc dạy học phải có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp  
5. Mỗi bài tập đọc là một bức tranh nhỏ về hiện thực cuộc sống của con người và  
thời đại… Các em càng đọc càng thêm hiểu biết về con người, về đất nước ta trong  
quá khứ và trong hiện tại, càng thêm tin yêu ở con người và cuộc sống tương lai.  
Với sự sáng tạo tuyệt vời của các nhà văn, nhà thơ, cuộc sống đi vào văn học mang  
một vẻ đẹp mới, không còn cái trần trụi, cái thô mộc. Nó đã được hình tượng hóa,  
1/20  
điển hình hóa cao độ. Nó là cuộc sống song thông qua lăng kính chủ quan của các  
tác giả nên ngời sáng lên và giàu chất thơ, chất mộng. Phải giúp học sinh cảm nhận  
được vẻ đẹp của tác phẩm, từ đó rung cảm với tác phẩm để có thể đọc được hay.  
Đọc hay, đọc tốt các em sẽ thích đọc, từ đó các em tích lũy cho mình một vốn từ  
ngữ. Các em không những hiểu được từ mà còn học cách sử dụng các từ ngữ đã  
biết để viết đoạn văn và trình bày tư tưởng tình cảm của mình. Vốn đó sẽ được  
nâng dần và làm phong phú khi học lên các lớp trên. Tập đọc là môn học bồi  
dưỡng cho các em tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong  
sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam  
Xã Hội Chủ Nghĩa.  
Đọc thành âm thanh các văn bản viết: Có các mức độ: đọc thành tiếng và  
đọc lẩm nhẩm. Các tác giả Fridoso.M và F.Godolanh đã nêu ra sơ đồ biểu diễn quá  
trình vận động của các giác quan con người trong việc đọc (dựa trên lý thuyết  
thông tin). Như vậy quá trình đọc thành âm thanh các văn bản viết gồm hai hoạt  
động: hoạt động thu nhận thông tin dựa trên cơ sở tri giác bằng mắt, bằng tai các  
văn bản đang đọc (miệng đọc, mắt nhìn, tai nghe). Hoạt động phát lại các thông tin  
thu nhận được bằng âm thanh ngôn ngữ dựa trên cơ sở sự hoạt động của một  
quáVấn đề dặt ra là làm thế nào để giúp các em đọc đúng tiếng trong từ, trong câu,  
đọc đúng ngữ điệu, biết cách ngắt nghỉ hơi trong thơ và văn xuôi. Chính vì thế, tôi  
chọn đề tài: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học sinh lớp 1 trong các tiết  
tập đọc”.  
II. Môc ®Ých  
Nghiên cứu vai trò của người giáo tầm quan trọng của người giáo viên khi  
dạy tiết Tập đọc, dựa vào nhận thức của học sinh khi dạy học Tập đọc là vô cùng  
quan trọng để hoàn thành 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Từ đó, đề ra những biện  
pháp, khắc phục những hạn chế giúp cho giờ dạy Tập đọc đạt hiệu quả cao.  
2/20  
III. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu là học sinh thông qua các tiết Tập đọc trong quá trình  
giảng dạy lớp 1.  
IV. Phương pháp nghiên cứu  
1. Phương ph¸p quan s¸t;  
2. Phương pháp trực quan  
3. Phương ph¸p đàm thoi, phng vn;  
4. Phương ph¸p tchc gia c¸c hot động đọc;  
5. Phương ph¸p ph©n tÝch, tng hp.  
V. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu  
Tôi đã tiến hành khảo sát thực nghiệm đối với học sinh lớp 1 năm học  
2016 -2017.  
3/20  
PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ  
I.Cơ sở lý luận  
Môn Tập đọc ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động  
ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực này được thể hiện thống nhất trong 4 kĩ năng  
tương ứng : nghe, nói, đọc, viết. Như vậy đọc là quá trình chuyển dạng từ viết sang  
lời nói có âm thanh và thông hiểu chúng. Đọc một văn bản viết gồm hai quá trình:  
đọc thành âm thanh văn bản đó và đọc để hiểu nội dung văn bản. Hiệu quả đọc  
thầm được đo bằng khả năng thấu hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó việc dạy đọc  
thầm chính là dạy học có ý thức, dạy đọc hiểu. Theo tâm lý ngôn ngữ học, người  
đọc muốn hiểu văn bản đọc phải nắm được các từ chìa khóa, những nhóm từ này  
mang ý nghĩa cơ bản. Đó là những từ giúp chúng ta hiểu được nội dung văn bản.  
Ở Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 1 thì phân môn Tập đọc có một vị trí quan  
trọng, dạy tốt môn Tập đọc là đáp ứng đầy đủ 4 kĩ năng sử dụng Tiếng Việt . Đối  
với lớp 1 đọc là vô cùng quan trọng vừa giúp các em có thể đọc để tiếp thu các  
môn học khác nhau vừa để nâng cao hoạt động giao tiếp giữa các em với mọi  
người xung quanh. Nếu đọc không tốt các em bị ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức  
các môn học khác ở trường.  
II. Thùc tr¹ng  
1. Thuận lợi  
- Trường Tôi đang công tác là một ngôi trường lớn, lượng học sinh rất đông,  
cũng là ngôi trường nhiều năm liền đạt danh hiệu trường tiên tiến, trường học thân  
thiện – học sinh tích cực.  
- Ban giám hiệu nhà trường tạo mọi điều kiện phục vụ tốt nhất cho hoạt  
động. Cơ sở vật chất đầy đủ, trường khang trang sạch đẹp, học sinh được học hai  
buổi/ngày.  
- Quận, nhà trường, khối thường xuyên tổ chức các chuyên đề để các giáo  
viên học tập, từ đó có sự trao đổi, góp ý kiến, thống nhấ về nội dung và hình thức  
tổ chức hoạt động.  
- Đa phần học sinh trong lớp có bố hoặc mẹ là cán bộ công nhân viên. Học  
sinh có ý thức tốt về đạo đức, ngoan ngoãn vì gia đình có ảnh hưởng rất lớn đối với  
các em. Ngoài thời gian đi học hầu hết thời gian còn lại các em sống với gia đình.  
4/20  
- Ở trong lớp nhiều học sinh có năng lực tổ chức, có trách nhiệm, nhiệt tình  
với công việc được giao nên việc tổ chức các hoạt động dạy và học cũng như giáo  
dục đạt kết quả.  
2. Khó khăn  
Bên cạnh những thuận lợi trên, vẫn còn một số khó khăn như:  
- Khu vực này có tỉ lệ dân nhập cư cao, lao động phổ thông nhiều nên một  
số học sinh ít được quan tâm, hướng dẫn trong việc luyện đọc.  
- Do một số gia đình kinh tế khá giả, bố mẹ bận lo kiếm tiền ít có thời gian  
quan tâm đến việc dạy kèm đọc cho con ở nhà, dẫn đến con sẽ không được luyện  
đọc thường xuyên ảnh hưởng nhiều đến quá trình hình thành ngôn ngữ đọc, nói.  
- Ngày nay, tình trạng xem điện thoại, phim ảnh, truyện tranh tràn lan đã thu  
hút khá đông trẻ nhỏ. Từ đó, dẫn đến việc các em chỉ thích nghe, xem mà lười đọc  
các truyện có ý nghĩa giáo dục.  
- Hiện nay một số gia đình còn có những biểu hiện không lành mạnh ở bản  
thân bố mẹ, anh chị học sinh nói năng thiếu văn hóa, đánh chửi nhau.  
Từ thực trạng vấn đề nêu trên, tôi đã rút ra những biện pháp thực hiện cụ thể để  
rèn đọc cho các con đạt hiệu quả cao.  
III. Nh÷ng biÖn ph¸p thùc hiÖn  
1. Các công việc cụ thể của người giáo viên  
Để chuẩn bị cho việc đọc, trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh cách ngồi đọc  
sao cho đúng tư thế. Khi ngồi đọc cần phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt  
đến sách nên nằm trong khoảng 30 - 35 cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra  
chậm để lấy hơi, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không vội vàng đọc ngay. Học sinh  
cần đọc to, rõ ràng. Khi đọc thành tiếng, học sinh có thể đọc cho mình hoặc cho  
người khác hoặc cho cả hai. Đọc cùng với phát biểu trong lớp là hai hình thức giao  
tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị  
để đảm bảo sự thành công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng,  
5/20  
giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ cho mình cô giáo  
mà để cho tất cả . Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp đòi hỏi quá trình luyện tập  
lâu dài. Đối với học sinh lớp 1, việc rèn luyện kĩ năng phải tính từ điểm xuất phát  
đầu tiên: luyện đọc từng con chữ ghi âm, ghi vần tiến tới luyện đọc từng tiếng,  
từng từ, từng câu… Ở lớp 1 giáo viên cần dành nhiều thời gian cho học sinh luyện  
tập đọc thông thạo văn bản trước khi kết hợp tìm hiểu nội dung văn bản.Song lưu  
ý: nếu trình độ học của học sinh chưa tốt, các em đọc chưa thông thạo văn bản giáo  
viên cần chú ý rèn luyện kĩ năng đọc văn bản nhiều hơn. Đọc để hiểu nội dung văn  
bản: Mục đích cuối cùng của việc đọc là để thông hiểu nội dung văn bản. Có nhiều  
cấp độ tạo nên sự thông hiểu toàn bộ nội dung văn bản: sự hiểu nghĩa của từ ngữ,  
nghĩa của câu, của đoạn và của toàn văn bản. Ngay ở mức độ đọc thầm, việc phát  
lại các thông tin thành âm thanh ngôn ngữ vẫn được thực hiện trong trí não người  
đọc. Vì thế người bên ngoài không thể nghe được các âm thanh này. Cơ chế trên  
cho ta thấy có thể dạy cho học sinh từ việc luyện đọc thành tiếng thành thạo  
chuyển sang dần tập đọc lẩm nhẩm và đọc thầm, đọc to cho các bạn cùng nghe nên  
cần đọc đủ lớn để cho tất cả những người này nghe rõ. Nhưng như thế không có  
nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên. Giáo viên nên cho học sinh đứng trên bảng để đối  
diện với những người nghe. Tư thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái,  
sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay.  
Tóm lại: Giáo viên cần điều tra lỗi phát âm của học sinh từng vùng để có  
biện pháp sửa chữa thích hợp. Hướng dẫn đọc cụ thể với những câu thơ, khổ thơ  
khó ngắt nhịp. Luyện ngắt nghỉ hơi đúng chỗ nhằm tạo cho văn bản âm thanh  
phản ánh đúng văn bản ghi bằng văn tự.  
2. Nội dung phân môn Tập đọc lớp 1  
Quá trình tìm hiểu nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập 2 , tôi nhận thấy  
hầu hết các bài Tập đọc đều là những tác phẩm nghệ thuật ngắn, dễ hiểu, dễ nhớ,  
6/20  
gần gũi đối với lứa tuổi các em. Mỗi bài đã được các nhà viết sách lựa chọn nhằm  
cung cấp một lượng kiến thức nhất định. Về nội dung các bài Tập đọc lớp 1 xoay  
quanh các chủ đề : Gia đình, nhà trường, bạn bè, …  
Trong số các bài văn xuôi và thơ đều có nội dung ngắn gắn liền với cuộc sống,  
khung cảnh thiên nhiên gần gũi, tình cảm gia đình đầm ấm nhẹ nhàng, dễ hiểu, dễ  
thuộc, dễ nhớ. Tạo cho các em hứng thú nhiều hơn với phân môn Tập đọc.  
3. Một số biện pháp giúp học sinh đạt kết quả tốt trong giờ Tập đọc  
1. Phương pháp trực quan  
Phương pháp này phù hợp với tư duy, tâm lí lứa tuổi. Trực quan bằng giọng đọc  
của giáo viên . Giọng đọc mẫu của giáo viên là hình thức trực quan sinh động và  
có hiệu quả cao.Chính vì thế, bài đọc mẫu của giáo viên phải đảm bảo chất lượng  
đọc chuẩn, đọc đúng rõ ràng, trôi chảy và diễn cảm. Giáo viên yêu cầu lớp ổn định  
trật tự tạo cho học sinh tâm lý nghe đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh  
đọc thầm theo. Khi đọc giáo viên đứng ở vị trí bao quát lớp, không đi lại, cầm sách  
mở rộng, thỉnh thoảng mắt phải dừng sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài  
đọc bị gián đoạn.  
2. Hướng dẫn đọc Sách giáo khoa  
Sách giáo khoa Tập đọc lớp 1 chủ yếu có 2 dạng bài: Dạng thơ, chủ yếu là  
thể thơ 4 – 5 tiếng. Dạng văn xuôi Cụ thể là trong 42 bài đọc thì có: - 23 bài dạng  
văn xuôi - 19 bài dạng thơ Việc hướng dẫn đọc đúng được thể hiện trong tiết 1.  
Đối với lớp 1 dù ở bất kỳ dạng bài nào văn xuôi hay thơ thì trước khi luyện  
đọc đúng toàn bài bao giờ học sinh cũng được ôn luyện âm vần. Trong phần này  
các em ôn luyện vần trên cơ sở luyện đọc những từ khó, hay nhầm lẫn khi đọc có ở  
trong bài. Để thực hiện được tốt phần này, ngoài việc cần lựa chọn thêm những từ  
7/20  
ngữ khác mà học sinh trong lớp mình hay nhầm lẫn hoặc phát âm sai để cho các  
em luyện đọc.  
a. Luyện đọc từ  
Trong thực tế, hàng ngày lên lớp tôi vẫn thực hiện điều này. Thí dụ: Bài  
“Bàn tay mẹ” Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau “yêu nhất, nấu cơm,  
rám nắng, xương xương” Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ  
trên tôi đã tìm thêm một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “bàn  
tay, hằng ngày, giặt một chậu tã lát đầy, gầy gầy…” Sở dĩ tôi đã lựa chọn thêm  
những từ ngữ này bởi vì thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít em đọc chưa tốt,  
các em hay nhầm lẫn vần, phụ âm đầu và dấu thanh.  
Cụ thể như: Từ học sinh đọc nhầm “bàn tay” thành “bàng tai”; “hằng  
ngày”thành „hàng ngài‟; “Gầy gầy” thành “gày gày”.  
Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm thấy  
khó đọc trong khi phát âm.  
Thí dụ: Bài “Chú công” sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc từ “nâu gạch,  
rẻ quạt, rực rỡ, lóng lánh” nhưng các em học sinh lớp tôi đã nêu ra được 2 từ mà  
các em cho là khó đọc đó là: “màu sắc, xoè tròn” vì khi đọc dễ bị lẫn “màu sắc”  
với “mầu sắc”, “xoè tròn” với “xèo tròn” .  
Khi luyện đọc từ ngữ, giáo viên cần gọi nhiều học sinh yếu đọc. Đồng thời  
nếu em đọc còn chậm, nhận diện vần lâu thì giáo viên nên yêu cầu em phân tích  
từng tiếng một. Tuy nhiên để giúp các em yếu đọc tốt, giáo viên cũng cần gọi một  
vài em giỏi đọc trước vì các em này đọc to, chính xác nên các em yếu sẽ bắt trước  
mà đọc tốt hơn. Tuy vậy, giáo viên cũng cần chỉ các từ không theo thứ tự để tránh  
các em yếu “đọc vẹt”. Sau khi học sinh đọc được từ, giáo viên kết hợp giảng nghĩa  
của từ luôn, có thể bằng tranh, ảnh, vật thật để giúp các em đọc hiểu được nghĩa  
8/20  
của từ mà đọc được đúng hơn. Cần tăng cường cho các em nhận xét nhau đọc,  
đúng hay say, nếu sai thì ở đâu, các em có thể tự sửa lại cho bạn. Nếu học sinh  
không làm được việc đó, giáo viên phải kịp thời uốn nắn sửa sai ngay cho các em.  
Nhất thiết phải có khen chê kịp thời. Sau đó cả lớp sẽ đọc đồng thanh thứ tự các từ  
khó  
b.Đọc đúng các bài thơ  
Thơ có tính truyền cảm rất sâu vừa có hình ảnh, vừa có nhạc, khi lắng đọng,  
lúc ngân vang…Cần thể hiện tình cảm khi đọc thơ, có thể là giọng náo nức, tưng  
bừng; khi trầm buồn hoặc nhẹ nhàng, sâu lắng…nhưng vẫn giữ được tính tự nhiên  
của giọng đọc, tránh lên bổng, xuống trầm một cách giả tạo, máy móc.Do vậy khi  
dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường chép lên bảng các câu thơ cần  
chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn.  
Ví dụ: Bài “Cái Bống”  
Cái Bống / là cái bống bang  
Khéo sảy, khéo sàng / cho mẹ nấu cơm,  
Mẹ Bống / đi chợ đường trơn  
Bống ra gánh đỡ / chạy cơn mưa ròng.  
Học sinh sẽ được luyện đọc từng dòng thơ rồi đọc nối tiếp nhau cho đến hết  
bài. Giáo viên có thể cho các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc không  
bị quên. Đến giai đoạn sau (khoảng từ giữa học kỳ II trở đi) tôi đã để học sinh nhìn  
vào sách và nêu cách ngắt giọng của mình ở từng câu thơ (vì những bài thơ của lớp  
1 thường là ngắn nên công việc này cũng không chiếm quá nhiều thời gian trong  
tiết dạy). Nếu học sinh nói đúng, giáo viên công nhận ngay và cho các em đánh  
dấu luôn vào sách. Nếu học sinh nói sai, giáo viên sửa lại cho học sinh.  
9/20  
Khi dạy bài “Mời vào”, bài “Làm anh”, bài “Kể cho bé nghe” tôi sử dụng  
hình thức trò chơi tiếp sức và cho các nhóm tự nhận xét nhau, như thế vừa giúp các  
em hứng thú học tập vừa biết tự sửa sai cho nhau.  
c. Đọc đúng các bài văn xuôi  
Nếu như thơ phản ánh hiện thực bằng phương thức trữ tình thì văn xuôi phản  
ánh hiện thực bằng phương pháp tự sự. Ngôn ngữ văn xuôi là ngôn ngữ tự sự, miêu  
tả: ngôn ngữ của nhân vật, ngôn ngữ của tác giả - Ngôn ngữ tác giả thường là lời  
dẫn chuyện, kể, tả…khi đọc cần nhấn giọng vào các từ gợi tả. Ngắt giọng ở các  
dấu câu, hạ giọng dưới câu kể. - Ngôn ngữ nhân vật thường là ngôn ngữ đối thoại,  
phải đọc với giọng đối thoại (ngôn ngữ nói). - Cách ngắt giọng: khi đọc ngắt giọng  
theo cụm từ có nghĩa hoặc khi có dấu câu. *  
*Ngắt sau dấu phẩy: nghỉ ngắn.  
*Ngắt sau dấu chấm: nghỉ dài, hạ thấp giọng.  
* Ngắt sau dấu hỏi: cao giọng.  
* Ngắt sau dấu chấm lửng: kéo dài hoặc hơi ngừng giọng. Ví dụ: Bài “Hoa  
ngọc lan”, Câu dài trong bài cần hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi .  
Ví dụ : Bài “Hoa ngọc lan- “Ở ngay đầu hè nhà bà em / có một cây hao  
ngọc lan.” “Vào mùa lan, sáng sáng, bà thường cài một búp lan/ lên mái tóc em.”  
Tôi đã đưa câu này lên màn hình và hướng dẫn cách ngắt hơi như trên .  
Ví dụ : Bài “Đầm sen” học sinh đã phát hiện ra câu dài trong bài là ngắt  
giọng nhý sau: “Suốt mùa sen / sáng sáng lại có những ngýời ngồi trên thuyền nan  
/ rẽ lá / hái hoa” Tôi ðã bổ sung thêm cách nghỉ hơi cho các em như sau: “Suốt  
mùa sen , / sáng sáng / lại có những người ngồi trên thuyền nan / rẽ lá / hái hoa //”  
Tôi giải thích ta ngắt ở sau từ “sáng sáng” để nhấn mạnh thêm về thời gian mà con  
người đi thăm đầm sen.  
10/20  

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 22 trang minhvan 12/02/2025 400
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học sinh Lớp 1 trong các tiết tập đọc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_luyen_doc_dung_cho_hoc_sinh_lop_1_tron.pdf