SKKN Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và vận dụng tốt phép so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3

Đối với học sinh Lớp 3, So sánh là mảng kiến thức mới song cũng phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học: giàu trí tưởng tượng, giàu cảm xúc, cách suy nghĩ hồn nhiên, trong sáng…Biện pháp so sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm.
PHẦN MỞ ĐẦU  
I.  
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI  
Đối với học sinh Lớp 3, So sánh mảng kiến thức mới song cũng phù hợp  
với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học: giàu trí tưởng tượng, giàu cảm  
xúc, cách suy nghĩ hồn nhiên, trong sáng…Biện pháp so sánh có khả năng khắc  
họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động,  
mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn  
đạt được mọi sắc thái biểu cảm. So sánh tu từ còn là phương thức bộc lộ tâm tư  
tình cảm một cách kín đáo tế nhị. Như vậy so sánh trong văn học mang chức  
năng nhận thức biểu cảm. Học tốt biện pháp So sánh sẽ giúp các em hiểu và  
cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong những câu văn, những bài văn, bài thơ. Qua  
đó góp phần mở mang tri thức, làm phong phú tâm hồn để giúp các em viết được  
những câu văn hay, gợi tả, gợi cảm những bài văn giàu cảm xúc. Không chỉ có  
vậy, nó còn giúp cho các em học tốt thể loại văn miêu tả ở Lớp 4 và Lớp 5, thể  
loại văn nghệ thuật sử dụng lời văn có hình ảnh cảm xúc làm cho người nghe,  
người đọc hình dung rõ nét, cụ thể, sinh động về các sự vật hiện tượng…  
Hơn thế nữa, biện pháp So sánh còn giữ vai trò quan trọng trong việc diễn  
đạt tư tưởng, tình cảm thích hợp với việc biểu đạt các đặc điểm, thuộc tính riêng  
vốn của các sự vật, hiện tượng… tạo nên những bức tranh sinh động với gam  
màu ấn tượng bằng ngôn từ.  
Chính vì vậy, dạy So sánh được rất nhiều giáo viên quan tâm, nhất là giáo  
viên dạy lớp 3. Vấn đề được đặt ra là dạy như thế nào cho hợp nhất, học sinh  
nắm bài tốt nhất để từ đó các em biết cách vận dụng vào những bài văn một cách  
chính xác và đạt hiệu qucao.  
Qua thực tế ở trường mình dạy và trao đổi với các bạn đồng nghiệp ở  
trường bạn, tôi thấy các giáo viên đều hiểu tầm quan trọng của phân môn  
Luyện từ và câu cũng như cái hay cái mới của phân môn này. Do có những nét  
mới trong phân môn này nên khi dạy về biện pháp tu từ so sánh, nhiều giáo viên  
đã biến giờ học Luyện từ và câu thành một giờ “giảng văn” nhằm lột tả cái hay,  
cái đẹp trong mỗi hình ảnh so sánh. Điều đó hoàn toàn sai phương pháp đặc trưng  
của phân môn, dẫn đến học sinh không không nắm được kiến thức trọng tâm của  
bài, chính vì vậy mà các em không mấy hứng thú trong học tập dẫn đến hiệu quả  
học tập không cao. Là một giáo viên dạy lớp 3 lâu năm, có kinh nghiệm, việc  
nghiên cứu về nội dung và phương pháp dạy học không chỉ là trách nhiệm mà còn  
niềm say mê, sự yêu nghề của tôi.  
Nhận tầm quan trọng của việc dạy biện pháp tu từ so sánh cho học sinh để  
các em biết vận dụng vào nói và viết văn, ngay từ đầu năm học tôi đã đi sâu  
nghiên cứu và tìm ra Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết vận dụng tốt  
phép so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3  
1
   
II.  
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU  
Đặc điểm của dạy Luyện từ và câu lớp 3 chính là giúp học sinh tiếp cận kịp  
thời với sách giáo khoa đồng thời giúp giáo viên có được phương pháp rèn luyện học  
sinh kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Từ đó vận dụng linh hoạt vào hướng  
dẫn rèn kỹ năng làm các bài tập Luyện tvà câu một cách hiệu quả nhất.  
Góp phần giúp học sinh củng cố thuyết về cách dùng từ so sánh, từ đó học  
sinh biết phân biệt, biết cách so sánh tu từ.  
III. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  
Tôi chọn học sinh lớp 3A3 do tôi chủ nhiệm năm học 2018 - 2019 làm đối  
tượng nghiên cứu, sĩ số học sinh là 45 em.  
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, tôi mạnh dạn nghiên cứu, học hỏi,  
tìm tòi, áp dụng những phương pháp sau:  
1. Phương pháp nghiên cứu luận (đọc tài liệu)  
2. Phương pháp điều tra giáo dục.  
3. Phương pháp phân tích tổng hợp.  
4. Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm (thông qua các chuyên đề ở tổ khối, dự giờ  
rút kinh nghiệm của đồng nghiệp, rút kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy của mình,  
khảo sát đối tượng học sinh.)  
5. Phương pháp quan sát, đàm thoại, trò chuyện với giáo viên và học sinh lớp 3.  
V.  
PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU  
Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3A3  
Kế hoạch nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019.  
2
       
PHẦN NỘI DUNG  
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LUẬN THỰC TIỄN  
1. CƠ SỞ LUẬN  
Trong hệ thống giáo dục, bậc Tiểu học một vị trí rất quan trọng, vì nó là bậc  
học nền móng cho các bậc học tiếp theo.  
Giáo dục Tiểu học cơ sở ban đầu hết sức quan trọng góp phần đào tạo ra lớp  
người mới phát triển một cách toàn diện để thể gánh trên vai sứ mệnh lịch sử của  
ngành giáo dục. Ở Việt Nam, những năm gần đây giáo dục tiểu học được quan tâm  
đặc biệt. Những năm qua đã biết bao công trình nghiên cứu, bao sáng kiến cải  
cách nội dung, đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với sự phát triển của xã  
hội.  
Chương trình tiểu học mới đòi hỏi người thầy ở khắp mọi miền Tổ quốc phải nỗ  
lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, tích cực đổi mới phương pháp dạy học để đạt  
được mục tiêu giáo dục đề ra.  
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học chức năng “kép” (vừa  
là môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều thời lượng nhất.  
Môn Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản cho mỗi học sinh trước  
khi bước vào đời. Đồng thời, nó giúp học sinh rèn luyện, nâng cao trình độ sử dụng  
một phương tiện học tập lĩnh hội tri thức khoa học, nâng cao kỹ năng sử dụng  
Tiếng Việt.  
Học Tiếng Việt không chỉ dừng lại ở những hiểu biết về nó, mà điều quan trọng  
sử dụng nó ngày một thành thạo hơn, tốt hơn vào các hoạt động giao tiếp đa dạng  
trong xã hội.  
Để đạt được mục tiêu trên, phân môn Luyện từ và câu đã góp phần không nhỏ,  
ngoài việc củng cố về các mẫu câu và mở rộng vốn từ cho học sinh thì phân môn  
Luyện từ và câu còn giúp các em làm quen với các biện pháp tu từ, trong đó biện  
pháp tu từ so sánh. Đây mảng kiến thức rất mới đối với học sinh lớp 3. Qua các bài  
học, các em sẽ nhận biết được các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau  
trong mỗi khổ thơ, mỗi đoạn văn, các em cần phân biệt được kiểu so sánh của mỗi  
hình ảnh so sánh ấy; thấy được ý nghĩa, tác dụng của biện pháp so sánh trong biểu  
đạt ngôn ngữ làm cho sự vật hiện lên sinh động gần gũi hơn. Để viết được những  
câu văn hay, những bài văn giàu hình ảnh cảm xúc, các nhà thơ nhà văn phải có  
sự quan sát tinh tế kết hợp với các biện pháp nghệ thuật để tạo nên sự thành công  
của tác phẩm .  
Nhờ những hình ảnh bóng bảy, dùng cái này để đối chiếu cái kia nhằm diễn tả  
những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ biến trong thơ ca, đặc  
biệt thơ viết cho thiếu nhi.  
Việc giúp các em tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong tác phẩm để qua đó dạy các em  
biết cách sử dụng các biện pháp tu từ vào trong những bài học của mình. Vậy, vấn đề  
3
     
đặt ra là: Giáo viên cần những hình thức tổ chức, phương pháp dạy học như thế  
nào để các em tích cực tham gia vào hoạt động học tập giờ dạy đạt hiệu quả cao.  
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN  
Để nắm rõ nguyên nhân và tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất cho việc dạy  
học biện pháp tu từ so sánh, tôi đã tìm hiểu kĩ thực trạng việc dạy học biện  
pháp này giáo viên và học sinh.  
Nhìn chung, nhiều giáo viên đã nắm được mục đích của việc dạy phép tu từ so  
sánh, biết sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học mới nhằm phát huy tính tích  
cực, chủ động của học sinh. Một số giáo viên biết sử dụng linh hoạt các phương tiện  
dạy học, giúp các em tiếp cận với phép so sánh một cách dễ dàng hơn.  
Tuy nhiên, giáo viên và học sinh vẫn còn gặp một số khó khăn hạn chế khi  
dạy học phép tu từ so sánh như sau:  
2.1.Về phía giáo viên:  
Qua thực tế giảng dạy và trao đổi với bạn đồng nghiệp cho thấy:  
Khi dạy về biện pháp tu từ so sánh một số giáo viên còn rất lúng túng trong việc nắm  
vững mức độ nội dung của từng bài cụ thể dẫn đến việc dạy quá cao hoặc quá thấp so  
với chương trình.  
Giáo viên mới chỉ chú tâm vào việc dạy cho học sinh nhận biết phép tu từ so  
sánh mà chưa quan tâm nhiều tới việc dạy học sinh cách cảm nhận vận dụng các  
kiến thức vso sánh vào việc nói và viết.  
Phần lớn giáo viên chỉ tổ chức cho học sinh luyện tập những bài tập trong sách  
giáo khoa, rất ít giáo viên sáng tạo ra các bài tập mới, các tình huống mới hay tạo ra  
hoàn cảnh sử dụng từ của học sinh.  
Vốn kiến thức của một số giáo viên còn hạn chế . Tài liệu tham khảo, mở rộng  
vốn hiểu biết cho giáo viên và học sinh chưa nhiều.  
Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép  
trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn Tiếng Việt với nhau, để khơi  
dậy sự hứng thú học tập sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong  
môn Tiếng Việt.  
2.2. Về phía học sinh  
Khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực  
quan, vốn kiến thức văn học của học sinh rất ít ỏi nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ  
so sánh còn hạn chế.  
Qua thực tế giảng dạy ở lớp mình phụ trách và tìm hiểu thêm về học sinh lớp  
khác qua các đồng nghiệp, tôi thấy các em còn mắc những lỗi sau:  
Học sinh nhầm lẫn giữa so sánh logic và so sánh tu từ  
dụ câu “ Trăng đêm nay sáng quá, trăng mai còn sáng hơn” là một phép so  
sánh tu từ bậc hơn kém nhưng thực tế nó là phép so sánh logic.  
Nhận diện sai các yếu tố so sánh  
dụ câu: “ Những hạt sương sớm đọng trên lá long lanh như những bóng đèn  
pha lê.” học sinh xác định các sự vật được so sánh với nhau là “ hạt sương” so sánh  
4
 
với “ lá” như vậy là sai. Đáp án ở đây phải là “ hạt sương sớm” được so sánh với “  
bóng đèn pha lê”.  
Hay trong các câu thơ sau:  
Mùa đông  
Trời là cái tủ ướp lạnh  
Mùa hè  
Trời là cái bếp lò nung.  
Các em thường xác định sai là  
mùa đông so sánh với tủ ướp lạnh  
mùa hè so sánh với bếp lò nung  
Tạo hình ảnh so sánh chưa hợp lý  
Học sinh đặt câu có hình ảnh so sánh “Con đường thẳng tắp như một chiếc  
thước kẻ.” Hầu hết các em chỉ biết tạo ra hình ảnh so sánh mà thiếu đi tính thẩm mĩ  
của nghệ thuật so sánh.  
Chưa cảm nhận được giá trị của phép so sánh.  
Chẳng hạn với những câu hỏi như : Trong các hình ảnh so sánh có trong bài,  
em thích hình ảnh nào? Vì sao? Các em chỉ nêu được hình ảnh so sánh mình thích  
chứ không giải thích được vì sao thích.  
Để kiểm tra khả năng nắm bài cũng như theo dõi sự tiến bộ của học sinh, tôi  
đã tiến hành khảo sát học sinh trước khi áp dụng biện pháp mới. Sau khi học xong  
tiết về so sánh ở tuần 1 và tuần 3, tôi đã chọn bài tập trong tiết Luyện từ và câu của  
tuần 5 làm bài tập khảo sát.  
Kết quả thu được như sau:  
Mức độ  
Số lượng học sinh  
10 em  
Tỉ lệ (%)  
22%  
Nhận biết tốt biện pháp tu từ so sánh  
Nhận biết chưa tốt biện pháp tu từ so sánh  
Chưa nhận biết được biện pháp tu từ so sánh  
8 em  
18%  
27 em  
60%  
Băn khoăn trước kết quả còn thấp của học sinh lớp mình, tôi đã tìm hiểu ra  
những nguyên nhân nêu trên và mạnh dạn đưa ra các biện pháp giúp học sinh nhận  
biết vận dụng tốt hơn phép tu từ so sánh.  
5
CHƯƠNG II:CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT VÀ  
VẬN DỤNG TỐT CÁC PHÉP TU TỪ SO SÁNH  
Biện pháp 1: Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa,  
phân nhóm các dạng bài tập so sánh  
1. Nội dung chương trình sách giáo khoa:  
Muốn giảng dạy tốt từng bộ môn, phân môn thì việc đầu tiên người giáo  
viên phải nghiên cứu kỹ nội dung, chương trình sách giáo khoa để phương  
pháp và kế hoạch dạy học đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học,  
khi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3 tôi đã bắt tay ngay vào việc  
nghiên cứu kỹ chương trình để định hướng dạy tốt phân môn Luyện từ và  
câu, nhất mảng kiến thức về phép tu từ So sánh.  
Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 được dạy 1tiết/1 tuần trong đó có 7 tiết  
dạy về So sánh (trong học kỳ I). Mục đích yêu cầu về nội dung, kiến thức mỗi  
tiết cũng nâng dần mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, giúp học  
sinh từng bước nắm bắt, ghi nhớ luyện tập hiệu quả.  
2.  
Yêu cầu mức độ của mỗi tiết dạy được tôi cụ thể hóa trong bảng sau:  
Tiết/tuần  
Nội dung  
Tiết 1 (Tuần 1)  
Học sinh bước đầu làm quen với biện pháp tu từ So sánh  
Học sinh biết cách tìm những hình ảnh so sánh trong các  
câu thơ, câu văn nhận biết các từ chỉ sự so sánh trong các  
câu văn đó  
Tiết 2 (Tuần 3)  
Tiết 3 (Tuần 5)  
Học sinh nắm bắt được kiểu so sánh: So sánh hơn kém, so  
sánh ngang bằng. Biết cách thêm các từ so sánh vào những  
câu văn chưa từ so sánh.  
Học sinh tìm hiểu thêm một cách so sánh: so sánh sự vật với  
Tiết 4 (Tuần 7)  
Tiết5 (Tuần10)  
con người, con người với sự vật.  
Học sinh nắm bắt thêm cách so sánh: So sánh âm thanh với  
âm thanh.  
Tiết 6 (Tuần 12) Học sinh biết cách so sánh hoạt động với hoạt động.  
Tiết 7 (Tuần 15) Học sinh đặt được câu văn có hình ảnh so sánh.  
Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 - Tập 1 dạy về So sánh gồm 7 tiết với  
các mô hình sau:  
Mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật  
Mô hình 2: So sánh Sự vật - Con ngƣời  
Mô hình 3: So sánh Hoạt động - Hoạt động  
Mô hình 4: So sánh Âm thanh - Âm thanh  
6
   
Đặc trưng của phân môn Luyện từ và câu có những điểm mới so với sách giáo  
khoa học sinh tự rút ra kiến thức qua việc thực hành làm các bài tập. vậy,  
dựa vào nội dung, chương trình như trên tôi đã khái quát lại chương trình thành các  
dạng bài tập về biện pháp so sánh như sau:  
2. Các dạng bài tập về biện pháp so sánh:  
Nhận biết những sự vật so sánh, những hình ảnh so sánh, những đặc điểm so  
sánh và những từ so sánh trong câu: Tiết 1, 2, 3, 4, 5, 6.  
Cảm nhận và nêu tác dụng của so sánh, tập đặt câu có sử dụng phép so sánh:  
Tiết 7  
Như vậy, mỗi tiết học về so sánh có yêu cầu khác nhau. Tiết học sau đòi hỏi  
kiến thức cao hơn tiết học trước, mỗi tiết học cung cấp một mảng kiến thức, một  
dạng bài tập. thế tôi tìm hiểu kỹ nội dung, mức độ kiến thức cần truyền đạt của  
từng tiết để tạo thành mạch kiến thức có liên kết một cách chặt chẽ logic.  
* Một số yêu cầu cơ bản khi dạy so sánh  
Học sinh Tiểu học với nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng  
nên việc hướng dẫn các em tìm hiểu những biện pháp tu từ không phải dễ. Bởi  
vậy, khi dạy phép so sánh trong phân môn luyện từ và câu cho học sinh, tôi đã chú ý  
đến những yêu cầu cơ bản sau:  
Sử dụng đồ dùng trực quan và thông qua các ví dụ cụ thể để dẫn dắt học sinh  
dần dần hiểu, nắm bắt, vận dụng biện pháp tu từ so sánh theo mức độ từ dễ đến khó,  
từ đơn giản đến phức tạp để từ đó nâng dần khả năng tư duy, óc sáng tạo cho học  
sinh.  
Thông qua các bài tập nhận biết, học sinh được luyện tập vận dụng biện  
pháp tu từ so sánh trong khi nói và viết. Bên cạnh đó, học sinh còn cần được tiếp xúc  
với ngôn ngữ nghệ thuật để biết cách cảm thụ cái hay, cái đẹp của thơ văn.  
Biện pháp 2: Tìm hiểu khái niệm, cấu trúc của phép tu từ so sánh  
Để dạy tốt kiến thức về so sánh thì người giáo viên phải nắm vững kiến thức về  
phong cách học nói chung và phép so sánh tu từ nói riêng. Có như vậy giáo viên mới  
chủ động trong bài giảng cũng xử tốt các tình huống.  
1. Khái niệm: So sánh tu từ biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu các sự  
vật với nhau miễn giữa các sự vật một nét tương đồng nào đó để gợi ra  
hình ảnh cụ thể,những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và  
người nghe.  
Khi so sánh phải có ít nhất hai sự vật trở lên. Trong đó sự vật so sánh  
(A) và sự vật được so sánh (B). Hai sự vật này phải có ít nhất một nét tương  
đồng. Hiệu quả của phép tu từ so sánh là gợi ra những hình ảnh cụ thể, những  
cảm xúc thẩm mĩ.  
2. Phân biệt sự khác nhau giữa so sánh tu từ so sánh logic:  
So sánh logic một biện pháp nhận thức trong duy của con người, là  
việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm  
ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng.  
7
 
dụ:  
Cái lưng còng của ông cụ sao giống lưng ông nội thế.  
Cơ sở của phép so sánh logic dựa trên tính đồng nhất, đồng loại của các sự  
vật hiện tượng mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối  
tượng.  
Nếu như giá trị của so sánh logic là xác lập được sự tương đương giữa hai  
đối tượng thì giá trị của so sánh tu từ ở sự liên tưởng, sự phát hiện gợi cảm  
xúc thẩm mĩ ở người đọc, người nghe.  
Trong ví dụ :  
như quả ngọt chín rồi  
Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng.  
( TV 3 - tập 1, trang 7)  
dụ trên “bà” được như “quả ngọt” đã chín, bà càng có tuổi thì tình  
cảm của bà càng sâu sắc, càng ngọt ngào như quả chín trên cây. Với sự so sánh  
này, người cháu đã thể hiện được tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với  
bà.  
Như vậy, so sánh tu từ học và so sánh logic khác nhau 3 yếu tố:  
- Tính hình tượng  
- Tính biểu cảm  
-
Tính dị loại (không cùng loại) của sự vật.  
3. Cấu trúc của phép so sánh tu từ:  
Phương diện, đặc  
Đối tượng  
Đối tượng đưa ra để  
làm chuẩn so sánh  
điểm so sánh  
được so sánh  
Từ so sánh  
(1)  
(2)  
(3)  
(4)  
Trăng  
tròn  
như  
cái đĩa  
Trong đó :  
- Yếu tố (1) là cái so sánh, đây yếu tố được hoặc bị so sánh tùy theo việc  
so sánh là tích cực hay tiêu cực.  
- Yếu tố (2) cơ sở so sánh, đây yếu tố chtính chất sự vật hay trạng thái  
của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu phương diện  
so sánh.  
- Yếu tố (3) mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng  
nhau. Ngoài từ như” còn có các từ tựa”, tựa như”, “ giống như”, “ là”,  
như ”, “ như thể”…; so sánh hơn kém như từ hơn”, “ chẳng bằng”…  
- Yếu tố (4) là cái được so sánh, tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh.  
8
Theo cấu trúc như trên, đối tượng được so sánh và đối tượng đưa ra để làm  
chuẩn so sánh có thể sự vật, con người, âm thanh, đặc điểm, hoạt động…  
Dựa vào cấu trúc có thể chia ra các dạng so sánh sau:  
* Dạng 1: Phép so sánh đầy đủ c4 yếu tố:  
dụ:Trăng tròn như cái đĩa  
1
2
3
4
* Dạng 2: Phép so sánh vắng yếu t(2)  
So sánh vắng yếu tố (2) còn gọi là so sánh chìm, tức là không có cơ sở so sánh.  
Khi bớt cơ sở so sánh thì phần thuyết minh miêu tả cái được so sánh sẽ rõ ràng  
hơn.Nó còn tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãi, phát huy sự sáng tạo của người  
đọc, người nghe hơn là so sánh có đủ 4 yếu tố. Dạng so sánh này kích thích thích sự  
làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn để thể xác định được những nét giống  
nhau giữa 2 đối tượng 2 vế từ đó nhận ra đặc điểm của đối tượng được miêu tả.  
dụ :  
Công cha như núi Thái Sơn  
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.  
* Dạng 3: Phép so sánh vắng yếu t(2) và (3)  
Đây dạng so sánh không đầy đủ, chỉ có cái so sánh và cái được so  
sánh.Trong trường hợp này yếu tố (2) và yếu tố (3) được thay thế bằng chỗ ngắt  
giọng, dấu gạch ngang hoặc là hình thức đối chọi.  
dụ:  
Thân dừa bạc phếch tháng năm  
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao  
Đêm hè hoa nở cùng sao  
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.  
Trong đoạn thơ trên, nhà thơ đã dùng chỗ ngắt giọng (được ghi lại bằng dấu  
gạch ngang) và đối chọi (giữa quả dừa và tàu dừa) để tạo nên một hình thức so sánh  
có âm điệu nhịp nhàng.  
Trong so sánh tu từ, còn có hình thức kết hợp một vế so sánh, một đối tượng  
so sánh với nhiều đối tượng được so sánh.  
dụ:  
Bác là cha, là bác, là anh.  
Dựa vào mặt ngữ nghĩa thì so sánh tu từ có 2 dạng: so sánh ngang bằng so sánh  
hơn - kém.  
+ Dạng so sánh ngang bằng.  
Đây dạng so sánh phổ biến thường dùng từ như”, “ là”, “tựa”, tựa  
như”… để làm từ so sánh.  
dụ: Giọt sương sớm long lanh như những hạt ngọc.  
+ Dạng so sánh hơn- kém  
Đây dạng so sánh luôn gắn với từ hơn : khỏe hơn, đẹp hơn hoặc chẳng  
bằng.  
9
dụ:  
Những ngôi sao thức ngoài kia  
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.  
Những dụ trên cho ta thấy các đối tượng được đưa ra để so sánh khác nhau  
về bản chất. Nhưng do một cách nhìn đặc biệt, các đối tượng vốn là khác loại, khác  
bản chất thể chuyển hóa được cho nhau, có những đặc điểm, những nét giống  
nhau.  
Vậy so sánh tu từ biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai  
đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà  
chỉ một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới  
mẻ về đối tượng.  
Mặt khác, sách giáo khoa Tiếng Việt 3 không trực tiếp đưa ra khái niệm So  
sánh (với tư cách là một biện pháp tu từ) cho học sinh mà thông qua các bài tập dần  
dần hình thành khái niệm đơn giản về so sánh cho học sinh. Chính vì vậy khi dạy về  
so sánh cho học sinh, tôi đã dựa trên các dạng bài tập để phân loại lựa chọn  
phương pháp dạy phù hợp với từng dạng bài cụ thể.  
Biện pháp 3: Giúp học sinh nhận biết các dạng bài tập về so sánh  
1. Dạng bài tập nhận biết biện pháp tu từ so sánh  
Đây dạng bài tập giúp học sinh nhận biết những sự vật so sánh, những hình  
ảnh so sánh, những đặc điểm so sánh và những từ so sánh trong câu. Để dạy tốt dạng  
bài tập này, tôi đã hướng dẫn học sinh cụ thể trong từng tiết học như sau:  
* dụ 1: Tiết 1 - Tuần 1 (Bài tập 2/ Trang 8 - Tiếng Việt 3, Tập 1)  
Tìm những sự vật được so sánh trong các câu văn, câu thơ dưới đây:  
a) Hai bàn tay em  
Như hoa đầu cành Huy  
Cận  
b) Mặt biển sáng trong như tấm gương khổng lồ bằng ngọc thạch.  
Tú Nam  
c) Cánh diều như dấu “á”  
Ai vừa tung lên trời  
Lương Vĩnh Phúc  
d) Ơ, cái dấu hỏi Trông  
ngộ, ngộ ghê Như  
vành tai nhỏ Hỏi rồi  
lắng nghe  
Phạm Như Hà  
Đây dạng bài tập đầu tiên các em được làm quen với so sánh với yêu cầu là  
nhận diện các từ chỉ sự vật được so sánh. Để làm tốt bài tập này học sinh phải nắm  
chắc các từ chỉ sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn trên là:  
+ “ Hai bàn tay em” so sánh với “hoa đầu cành”  
+ “ Mặt biển so sánh với “tấm thảm khổng lồ”  
+ “ Cánh diều” so sánh với dấu “á”  
10  
 

Tải về để xem bản đầy đủ

docx 30 trang minhvan 10/03/2025 180
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và vận dụng tốt phép so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_nhan_biet_va_van_dung_to.docx