SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 viết đoạn văn kể chuyện

Văn kể chuyện cũng góp phần giáo dục đạo đức cho học sinh. Thông qua các đoạn văn kể chuyện hoặc câu chuyện mẫu các em được phát triển những xúc cảm thẩm mĩ – chất liệu quan trọng để tạo nên tâm hồn cao thượng, lòng mẫn cảm chân thành trước nỗi bất hạnh, đau đớn và khổ ải của con người.
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ  
1. Lí do chọn đề tài  
Kĩ năng viết đoạn đặc biệt kĩ năng viết đoạn văn kể chuyện có vai trò  
cực kì quan trọng trong cuộc sống con người. Trong giao tiếp hàng ngày, con  
người dùng những đoạn văn thậm chí là cả những bài văn kể chuyện để tái hiện  
lại diễn biến các sự kiện, đặc điểm hoạt động của sự vật, sự việc hoặc của chính  
bản thân mình để làm phương tiện trao đổi thông tin, giáo dục hoặc truyền dạy  
kinh nghiệm sống cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác.  
Trong dạy học văn kể chuyện, kĩ năng viết đoạn vị trí gần như quyết  
định đến sự thành công của bài làm văn kể chuyện. Bởi lẽ, đoạn văn kể chuyện  
đơn vị, tế bào cấu tạo nên bài văn kể chuyện học sinh không thể tạo nên  
được một bài văn kể chuyện khi các em chưa biết kĩ năng viết một đoạn văn là  
gì. Chính kĩ năng viết đoạn sẽ giúp cho các em rèn luyện được một số phẩm chất  
của tư duy, nhận biết được cái đẹp, cái hay, cái tinh tế của ngôn ngữ Việt. Qua  
đó giúp các em càng thêm yêu thích và có ý thc gigìn, phát trin strong sáng,  
giàu đẹp ca tiếng Vit.  
Văn kể chuyện cũng góp phần giáo dục đạo đức cho học sinh. Thông qua  
các đoạn văn kể chuyện hoặc câu chuyện mẫu các em được phát triển những xúc  
cảm thẩm mĩ chất liệu quan trọng để tạo nên tâm hồn cao thượng, lòng mẫn  
cảm chân thành trước nỗi bất hạnh, đau đớn khổ ải của con người. Nhờ có  
chuyện cổ tích, trẻ nhận thức được thế giới không chỉ bằng trí tuệ bằng cả  
một trái tim chân thành, ngây thơ, thánh thiện. Đồng thời bên cạnh việc nhận  
thức, các em còn phản ứng lại với các sự kiện, hiện tượng của thế giới xung  
quanh bằng thái độ yêu ghét rõ ràng đối với cái thiện, cái ác, cái chính nghĩa và  
phi nghĩa.  
Ngoài ra, việc học văn kể chuyện cũng bồi dưỡng cho học sinh một số kĩ  
năng để hình thành năng lực văn thông qua các bài tập, các đoạn hay bài văn kể  
chuyện. Đây chính là những yếu tố quan trọng làm cơ sở vững chắc cho quá  
trình tích lũy vốn văn học trong những bậc học sau này.  
Giúp học sinh rèn luyện được các kĩ năng viết đoạn văn kể chuyện là  
nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng nhất trong dạy học văn kể chuyện ở trường  
Tiểu học. Mặc thế nhưng thực tế giảng dạy văn kể chuyện cho học sinh lớp 4  
cho thấy rằng khả năng viết đoạn văn kể chuyện của học sinh các trường phổ  
thông còn rất nhiều hạn chế. Một số em có khả năng viết nhưng chưa trình bày  
đoạn văn kể chuyện một cách logic, số còn lại thì còn lúng túng ở cả khâu lựa  
chọn ý và hành văn. Có khi ngồi trước đề bài 15 thậm chí 30 phút mà các em  
vẫn chưa viết được gì. Các em dường như còn quá mơ hồ, mờ nhạt đối với  
những kiến thức về văn kể chuyện, các em không biết làm thế nào để viết được  
một đoạn văn vừa trọn vẹn về nội dung, vừa hoàn chỉnh về mặt hình thức? Cách  
viết một đoạn văn kể chuyện theo kết cấu như thế nào? Cách viết đoạn mở bài,  
thân bài, kết bài ra sao? Cách lập dàn ý và chuyển từ một phần của dàn ý thành  
một đoạn văn kể chuyện như thế nào? Đó chính là những nguyên nhân chủ yếu  
làm cho những đoạn văn kể chuyện trở nên nghèo nàn về ý tứ, lỏng lẻo về mặt  
kết cấu, nội dung chuyện chưa sự gắn kết chặt chẽ vì trình độ sử dụng các  
phương tiện liên kết còn nhiều hạn chế, dẫn đến đoạn văn kể chuyện không đạt  
yêu cầu, làm hạn chế chất lượng dạy học văn kể chuyện ở các trường Tiểu học.  
Xuất phát từ những nhu cầu, đặc điểm đặc biệt là tính cấp thiết trong  
dạy học cho thấy việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn kể chuyện cho học  
sinh lớp 4 là điều hết sức cần thiết. Người giáo viên tiểu học chính là người thợ  
xây đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng một cái nền vững chắc cho quá  
trình tích lũy của học sinh ở bậc học sau này. Tuy nhiên nhiệm vụ này không  
phải điều thể thực hiện được một cách dễ dàng đối với người giáo viên  
Tiểu học nếu như không có một trình độ chuyên môn, một kĩ năng sư phạm tốt,  
một vốn kiến thức sâu rộng về tiếng Việt văn học.  
Tất cả những điều vừa phân tích trên đây chính là lí do thôi thúc tôi lựa  
chọn nghiên cứu đề tài Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 viết đoạn văn  
kể chuyện”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
- Đề tài đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn kể  
chuyện cho học sinh lớp 4.- Mong muốn được phổ biến kinh nghiệm, học hỏi  
thêm những biện pháp hiệu quả khác.  
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học.  
3. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để đạt được mục đích đó đề tài đi vào giải quyết 3 nhiệm vụ sau:  
- Nghiên cứu cơ sluận thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh lớp 4  
xây dựng đoạn văn kể chuyện.  
- Đề xuất điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học sinh lớp 4 xây  
dựng đoạn văn kể chuyện.  
- Thực nghiệm dạy học.  
4. Đối tượng nghiên cứu  
Mt sbin pháp rèn luyn kĩ năng viết đon văn kchuyn cho hc  
sinh lp 4.  
5. Phạm vi nghiên cứu  
Phân môn Tập làm văn  
Hướng dẫn xây dựng đoạn văn kể chuyện cho học sinh lớp 4 trường Tiểu  
học Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội.  
6. Phương pháp nghiên cứu  
6.1 Phân tích tổng hợp các tài liệu dạy học  
`Để nghiên cứu đề tài này, tôi tham khảo nắm vững nội dung chương  
trình sách giáo khoa lớp 4. Nghiên cứu tham khảo ở sách giáo viên. Ngoài hai  
loại sách chính trên tôi tìm hiểu thêm ở một số sách hướng dẫn cách đọc  
truyện,tâm trẻ em, một số sách truyện cổ tích, truyện thiếu nhi. Ngoài ra tôi  
còn tìm mua một số băng hình về phim truyện thiếu nhi nhằm tìm hiểu them  
từng nhân vật thể hiện qua cách diễn xuất của từng diễn viên nhí. Những nhân  
vật thật trên phim sẽ có tác động rất mạnh mẽ đến trẻ em. Vì thế tôi luôn quan  
tâm đến tất cả các vấn đề liên quan đến việc làm sao để phát huy tối đa năng lực  
của từng học sinh.  
6.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế  
Tôi đã thực hiện một số lần khảo sát, trao đổi với đồng nghiệp, học sinh  
về vấn đề giáo dục kể chuyện hiện nay. Đa số học sinh rất thích kể chuyện( theo  
số liệu tôi tham khảo trong lớp thì có 36/37 em đều thích nghe kể chuyện và  
xem phim truyện thiếu nhi, cũng như kịch thiếu nhi và đặc biệt truyện cổ  
tích). Về phía giáo viên đồng nghiệp cũng thấy rằng học sinh rất hứng thú với  
tiết kể chuyện, chờ đợi tiết kể chuyện trong niềm háo hức và tâm trạng rất  
vui. Còn với phụ huynh thì cho rằng kể chuyện là cách giáo dục tốt nhất đối với  
trẻ em. Chúng rất tin vào những câu chuyện thần kỳ, chúng luôn luôn mong  
muốn một ngày nào đó mình sẽ thành nhân vật ấy, điều đó giúp trẻ niềm  
tin mãnh liệt vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.  
Ngoài ra việc dự giờ đồng nghiệp nhằm trao đổi học hỏi kinh nghiệm  
cũng được tôi vận dụng. Đối với học sinh sau khi được học xong tiết kể chuyện,  
tôi khảo sát các em bằng cách cho sử dụng một số câu hỏi nhằm kiểm tra lại  
những gì các em đã được tiếp thu. Sau đó (cho các em ghi lại cảm nhận của  
mình về câu chuyện vừa nghe) được tôi thường xuyên vận dụng để các em có  
dịp bộc lộ cảm xúc của mình, nói lên những điều thích và không thích các  
nhân vật trong từng câu chuyện kể và trong thế giới tuổi thơ của các em.  
6.3. Dạy thực nghiệm  
Phân môn: Tập làm văn  
Tiết : Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật  
(Tiếng Việt 4, tập 1, tuần 3, trang 32)  
6.4. Thống kê toán học  
PHẦN THỨ HAI : NỘI DUNG  
1. Cơ sở luận  
Như chúng ta đã biết, văn kể chuyện một trong những bộ phận quan  
trọng trong chương trình Tập làm văn ở Tiểu học. Sách giáo khoa tiếng Việt 4  
cho rằng: “Kể chuyện kể lại một chuỗi sự việc đầu cuối, liên quan đến  
một hay một số nhân vật. Mỗi câu chuyện cần nói lên được một điều có ý  
nghĩa”.  
Văn kể chuyện phải chuyện (cốt truyện), sự việc, nhân vật nhằm  
diễn tả một ý nghĩa nào đó:  
Có hai yếu tố tạo nên chuyện: “Sự việc diễn biến và ý nghĩa, điều  
muốn nói qua sự việc”. Như vậy kể chuyện không chỉ đơn thuần kể lại một câu  
chuyện bất kì nào đó điều quan trọng hơn cả là thông qua câu chuyện kể ta  
ngụ ý gì về cuộc sống xung quanh, về phẩm chất, tính cách con người từ đó  
thấy cái hay cái dở của cuộc sống để thêm tin yêu, tự rèn luyện bản thân để trở  
thành người có ích cho xã hội. Do đó “sự việc diễn biến” chỉ phương tiện  
còn “ ý nghĩa, điều muốn nói” mới thực sự mục đích của chuyện. Người ta có  
thể kể một câu chuyện thực, cũng thể bịa ra câu chuyện, bịa ra nhân vật  
dựa trên kinh nghiệm sống của mình nhưng không thể bịa ra được ý nghĩa cuộc  
đời. Ý nghĩa cuộc đời phải rất thật, gắn bó và thể hiện sâu sắc cách hiểu, niềm  
tin, lí tưởng, đạo đức,… thiêng liêng của dân tộc thời đại. Tóm lại chuyện có  
hay hay không chính là ý nghĩa cuộc sống nó mang lại cho người đọc.  
Muốn tìm được truyện hay, hấp dẫn, ta phải chịu khó quan sát, đào sâu  
suy nghĩ để tìm hiểu về cuộc sống xung quanh, không nên bằng lòng với một số  
khuôn mẫu hoặc công thức sẵn. như thế ta mới được những câu chuyện  
độc đáo về nội dung và lạ hóa về mặt hình thức.  
Chuyện được kể theo ngôi, có bố cục, mở đầu, diễn biến kết thúc  
Cách kể chuyện có duyên, hấp dẫn do nhiều yếu tố tạo nên: cách sắp xếp  
câu chuyện, cách mở đầu, kết thúc, cách thắt nút, cách lựa chọn ngôi kể, giọng  
kể, lựa chọn chi tiết hay, tình huống gây bất ngờ,...  
Muốn kể được câu chuyện, đầu tiên phải sắp xếp các sự việc trong câu  
chuyện theo một trình tự nhất định hay còn gọi là dàn ý. nhà trường, dàn ý  
một câu chuyện thường có ba phần: mở chuyện, thân chuyện kết chuyện.  
Trong việc sắp xếp cho dàn ý câu chuyện, điều quan trọng là các chi tiết phải tạo  
nên sự hợp lí. Khi có được sự sắp xếp hợp rồi cần chọn cách mở đầu kết  
thúc chuyện cho hay. Cả cách mở đầu kết thúc chuyện đều quan trọng. Cách  
mở đầu là cách mời người đọc vào sống với câu chuyện, cách kết thúc là cách  
tiễn người đọc ra về. Ra về người đọc không còn nhớ chút gì câu chuyện là  
người kể đã thất bại. Có nhiu cách mở đầu và kết thúc câu chuyn. Tùy vào sở  
thích và phong cách ca mình mà hchn nhng cách mbài và kết bài khác nhau.  
Nhng cách kết thúc hay, độc đáo thường to cho độc gimt sự đột ngt thú v, mt  
dư âm ngân nga mãi trong lòng, mt schú ý, suy ngm dài lâu... Đó chính là sự  
thành công ca câu chuyn k.  
Trong văn kể chuyện, nghệ thuật tạo ra được chỗ thắt nút, cởi nút thú  
vị, gợi lên suy nghĩ và gây hoang mang trong lòng người đọc.  
dụ: Trong câu chuyện “Cửa hàng bán chó con”, điểm thắt nút là lúc  
cậu với vẻ mặt buồn buồn nằng nặc đòi mua bằng được chú chó con tật  
nguyền ấy. Đây thời điểm khiến cho người đọc tự vấn “Chú chó này có gì đặc  
biệt mà sao cậu cứ đòi mua bằng tiền mà không chịu nhận biếu không”. Lúc  
này mâu thuẫn đã lên đến đỉnh điểm được tháo gỡ khi “Cậu bé khom xuống  
và kéo ống quần lên để lộ chân bên trái bị trẹo, quặt què, được bằng một  
thanh kim loại”. Lúc này mọi người mới vỡ lẽ ra rằng chuyện như thế.  
Trong quá trình kể chuyện, người ta có thể kể theo trình tự thời gian,  
chuyện xảy ra trước kể trước, chuyện xảy ra sau kể sau. Người ta cũng thể kể  
ngược lại, chuyện xảy ra sau kể trước, chuyện xảy ra trước kể sau. Ngoài ra còn  
có cách kể theo trình tự đan xen vào nhau: trước – sau, sau – trước.... Lại có  
chuyện kể theo lối sắp xếp song song: hai việc cùng xảy ra cùng một lúc hai  
nơi khác nhau.  
Riêng về ngôi kể, thể kể theo ngôi thứ ba (lời người dẫn chuyện) hoặc  
cũng thể kể ở ngôi thứ nhất (tôi, chúng tôi, em, chúng em). Ngoài ra, trong  
nhà trường phát trin hình thc chuyn cách kcâu chuyn đã cho tngôi nsang  
ngôi kia.  
Đặc điểm của văn kể lại sự việc được chứng kiến hoặc tham gia  
Học sinh phải kể lại sự việc thật, đã xảy ra và kể lại trung thành diễn  
biến ca svic theo thi gian hoc không gian thông qua nhng chi tiết chn lc,  
tiêu biu.  
Các sự việc học sinh được chứng kiến hoặc tham gia có thể buổi lễ  
chào cờ đầu tuần, một buổi học trong lớp, một tiết thể dục ngoài sân,... Điều  
quan trọng học sinh phải người trong cuộc (tức được tham gia) hoặc được  
dự, được xem. Hiện nay do sự phát triển của truyền thông, học sinh có thể không  
cần dự trực tiếp tại chỗ mà xem qua tivi cũng coi như được chứng kiến.  
Trong quá trình viết đoạn văn kể chuyện, người viết thể nhấn mạnh ở  
việc này, lướt qua việc kia, miêu tả cái gì, tô đậm cái gì. Điều đó còn phụ thuộc  
nhiều vào phong cách hành văn của mỗi người nhưng vấn đề đáng nói ở đây là  
phải trung thành vi các skin có tht. Tuyt đối không thbóp méo stht dù là  
mt chi tiết.  
2. Cơ sở thực tiễn  
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là môn  
học khó trong các phân môn của môn Tiếng việt. Do đặc thù của môn học phải  
hình thành và rèn cho học sinh khả năng nói và viết một văn bản ở nhiều thể loại  
khác nhau. Chính vì vậy, phân môn Tập làm văn ở Tiểu học nhiệm vụ quan  
trọng đối với học sinh là rèn kĩ năng nói, viết, giao tiếp,... Nói và viết hỗ trợ rất  
nhiều cho các môn học khác. Đặc biệt hơn nữa, Ở lớp 3, các em viết một đoạn  
văn ngắn từ 7 đến 10 câu về các chủ đề khác nhau,... Nhưng thực tế hiện nay,  
phần đa học sinh đều không hứng thú học phân môn Tập làm văn vì các em nghĩ  
rằng : Mình sẽ không biết nói gì ? viết gì ? để hoàn thành một đoạn văn ngắn  
theo yêu câu đề bài. Trực tiếp giảng dạy các lớp 4 qua nhiêu năm, tôi nhận thấy  
rằng ở tiết Tập làm văn hầu như các em không thích học, còn lúng túng khi dùng  
từ đặt câu, câu văn thường lặp lại, dùng sai từ, cách sử dụng dấu câu, không đầy  
đủ ý, trong văn kể chuyện học sinh chưa biết dùng ngôi xưng hô khi kể cho nhất  
quán, chuyển từ lời kể trực tiếp sang gián tiếp ngược lại …Nhiều em làm  
theo hình thức trả lời câu hỏi gạch đầu dòng của phần gợi ý dẫn đến yêu cầu  
đề bài không đạt.  
một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi rất băn khoăn trăn trở: Làm thế  
nào để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học  
tập cho học sinh để giúp các em nói và viết đúng cấu trúc của đoạn văn nhất là  
văn kể chuyện theo yêu cầu đề bài của môn học Tập làm văn. Đây vấn đề đặt  
ra cho mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạy phải có tay nghề vững vàng, phải biết  
yêu nghề, mến trẻ, tức phải năng lực sư phạm, phải biết chọn lựa tự tìm tòi  
những phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp, biện pháp để nâng cao chất  
lượng học tập cho học sinh đạt kết quả cao  
2.1. Thuận lợi  
Tiếng việt nói chung là môn học quan trọng trong nhà trường nên rất được  
sự quan tâm của ngành. Hàng năm thường có các đợt tập huấn nhằm củng cố và  
nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên. Trong đó phân môn tập làm văn  
cũng không ngoại lệ.  
Ban giám hiệu cũng như tổ chuyên môn thường xuyên quan tâm, tạo điều  
kiện cho giáo viên dạy tốt, vận dụng kinh nghiêm vào công tác giảng dạy để  
nâng cao hiệu quả dạy học.  
Giáo viên thường xuyên dgi, tchc các chuyên đề, rút kinh  
nghim, htrnhau trong quá trình công tác. Nhvậỵ giáo viên có thhc  
hi kinh nghim ca nhau, phát huy đim tích cc, hn chế, nhng yếu kém  
trong ging dy.  
Cơ sở vật chất nhà trường được trang bị đầy đủ thiết bị dạy học hiện đại,  
giáo viên và học sinh tiếp cận được công nghệ thông tin trong dạy học.  
- Cơ sở vật chất ở các lớp tương đối đầy đủ tiện nghi, bàn ghế, phòng học.  
- Đời sống của phụ huynh học sinh tương đối ổn định, nền kinh tế vững chắc  
nên phụ huynh rất quan tâm tạo mọi điều kiện tốt đến việc học của con em mình.  
- 100 % các Lớp học 2 buổi / ngày.  
-Cách đánh giá học sinh theo tinh thần TT 22 có tính nhân văn giúp học sinh  
mạnh dạn tự tin và có hứng thú học tập hơn.  
2.2. Khó khăn  
- Hình thức, phương pháp dạy học theo hướng đổi mới làm cho nhiều giáo  
viên lúng túng trong quá trình lên lớp, nhiều giáo viên phụ thuộc, rập khuôn theo  
sách giáo khoa, hay áp đặt học sinh,…  
- Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em tiếp thu nhanh nhưng cũng nhanh  
quên, mức độ tập trung học tập chưa cao. Học sinh lớp 4 vốn ngôn ngữ của các  
em chưa nhiều: các em còn mải chơi nhiều hơn học. Việc tiếp thu bài còn thụ  
động theo cách truyền tải của giáo viên nên nó ảnh hưởng đến chất lượng học  
tập của các em.  
- Môn Tập làm văn một môn khó, nhiều em còn ngại học văn, lười suy nghĩ  
nên các giờ học các em còn ngại phát biểu, viết bài qua loa cho xong chuyện.  
Cách dùng từ đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn còn nghèo ý.  
- Việc tổ chức học tập trên lớp của giáo viên chưa phát huy dược vốn ngôn ngữ  
vốn của các em cũng như chưa khơi dậy ở học sinh sự mạnh dạn tự tin trong  
học tập.  
- Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc,  
chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối văn của riêng mình. Nhiều học  
sinh thiếu sự quan tâm của một số gia đình, nhiều phụ huynh chưa thực sự quan  
tâm đến việc học của các em mà tất cả là phó mặc cho giáo viên. Dẫn đến các  
em không hứng thú khi học phân môn này.  
3. Nội dung dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4  
3.1. Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng phân môn Tập làm văn lớp 4  
3.1.1. Chương trình dạy học Tập làm văn lớp 4  
Chương trình dy hc TLV lp 4 có các ni dung nói, viết theo các kiu bài sau:  
- Nói, viết phục vụ cuộc sống hang ngày như trao đổi ý kiến, giới thiệu  
địa phương, tóm tắt tin tức, điền vào mẫu in sẵn, viết thư.  
- Viết bài văn kể chuyện ( 19 tiết)  
- Viết bài văn miêu tả ( 30 tiết), trong đó miêu tả đồ vật 10 tiết, miêu tả  
cây cối 10 tiết, miêu tả sự vật 10 tiết  
Ở lớp 4, nội dung TLV có thêm cả những kiến thức thuyết. Đó là  
những kiến thức sơ giản về văn bản, đặc điểm, phương pháp làm bài theo thể  
loại. Những đặc điểm chính của hai loại văn bản kể chuyện và miêu tả một số  
loại văn bản thông thường được cung cấp cho HS như sau:  
- Văn kể chuyện:  
+ Thế nào là văn kể chuyện?  
+ Nhân vật trong kể chuyện. Kể lại hành động của nhân vật. Tả ngoại  
hình của nhân vật trong bài văn kể chuyện. Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật.  
+ Cốt truyện  
+ Đon văn trong bài văn kchuyn. Mbài, kết bài trong bài văn kchuyn.  
- Văn miêu tả  
+ Thế nào là văn miêu tả?  
+ Quan sát để miêu tả cho sinh động  
+ Trình tự miêu tả ( đồ vật, cây cối, con vật)  
- Các loại văn bản khác: Viết thư  
3.1.2. Kỹ năng cần đạt đối với học sinh  
- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp  
+ Nhận diện đặc điểm văn bản  
+ Phân tích đề bài, xác định yêu cầu  
- Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp  
+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho  
+ Tìm ý và sắp xếp thành dàn ý trong bài văn kể chuyện  
+ Quan sát đối tượng, tìm ý và sắp xếp thành dán ý trong bài văn miêu tả  
- Kĩ năng hiện thực hóa hoạt động giao tiếp  
Đối chiếu văn bn nói, viết ca bn thân vi mc đích giao tiếp và yêu cu din đạt  
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt  
3.2. Phương pháp dạy học Tập làm văn lớp 4  
- Phương pháp thuyết trình  
- Phương pháp quan sát  
- Phương pháp thảo luận  
- Phương pháp luyện tập thực hành  
- Phương pháp nhận xét đánh giá  
3.3. Tìm hiểu về nội dung và phương pháp xây dựng đoạn văn kể chuyện  
cho học sinh lớp 4,...  
4. Thực trạng rèn luyện viết đoạn văn kể chuyện  
4.1. Về phía học sinh:  
Bảng khảo sát kết quả học tập của HS lớp thực nghiệm lớp đối chứng  
Kết quả đạt được (Điểm)  
Số  
Lớp  
9-10  
7-8  
5-6  
Dưới 5  
HS  
SL  
11 14.7 34  
10 13.3 33  
SL  
%
SL  
45.3 22  
44 24  
%
SL %  
Thực nghiệm  
75  
75  
29,3  
32  
8
10,7  
10.7  
Đối chứng  
8
Qua khảo sát thực tế về sản phẩm của học sinh lớp 4 cho thấy phần lớn  
các em chưa biết sử dụng các phương tiện liên kết câu. Mặc dù các em cố gắng  
viết cho liền mạch để ra vẻ một đoạn văn nhưng nội dung còn quá rời rạc, sự  
doc 9 trang minhvan 26/02/2025 330
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 viết đoạn văn kể chuyện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_4_viet_doan_van_ke_c.doc