SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến “dấu hiệu chia hết”

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Trẻ em nhất là trẻ ở bậc tiểu học đang được cả gia đình và xã hội nâng niu, chăm sóc. Các em như chồi non đang từng ngày lớn nên dưới sự dìu dắt của thầy cô, cha mẹ và mọi người. Bởi vậy giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng đang được toàn xã hội quan tâm.
PHÒNG GIÁO DC VÀ ĐÀO TO QUN THANH XUÂN  
-------------  
MÃ SKKN  
SÁNG KIN KINH NGHIM  
MT SBIN PHÁP GIÚP HC SINH LP 4 LÀM  
TT CÁC DNG TOÁN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN  
“DU HIU CHIA HT”  
Lĩnh vc/ Môn: Toán  
NĂM HC: 2015-2016  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
MỤC LỤC  
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU  
I. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………..…1  
II. Mục đích nghiên cứu ……………………………………………………...3  
III. Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu …………………...………….. 3  
IV. Các phương pháp nghiên cứu....................................................................3  
PHẦN II: NỘI DUNG  
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LUẬN CƠ SỞ THỰC TIỄN........................4  
1. Cơ sở luận................................................................................................4  
2. Cơ sở thực tiễn . ..........................................................................................5  
CHƯƠNG II: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN..................................................7  
A. Nhận biết các dấu hiệu chia hết............................................................9  
B. Mở rộng các dấu hiệu chia hết ............................................................14  
C. Một số tính chất chia hết của một tổng một hiệu. ..........................21  
D. Một số tính chất liên quan đến phép chia có ...................................22  
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BÀI TẬP ÁP DỤNG KẾT HỢP DẤU HIỆU  
CHIA HẾT VÀ PHÉP CHIA CÓ DƯ. .......................................................24  
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC......................................................38  
PHẦN III: KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ.  
1/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU  
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI  
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Trẻ em nhất trẻ ở bậc tiểu học  
đang được cả gia đình và xã hội nâng niu, chăm sóc. Các em như chồi non đang  
từng ngày lớn nên dưới sự dìu dắt của thầy cô, cha mẹ mọi người. Bởi vậy  
giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng đang được toàn xã hội quan  
tâm. Đối với học sinh tiểu học, ngay từ lớp 1 các em đã được học đầy đủ các  
môn học trong đó môn Toán là một trong những môn có vị trí quan trọng trong  
chương trình giáo dục bậc tiểu học. Môn Toán bậc tiểu học cung cấp kiến thức  
cho học sinh rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy sáng tạo năng lực học Toán  
riêng biệt, môn Toán góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách theo mục  
tiêu giáo dục bậc tiểu học.  
Việc dạy môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống  
kiến thức toán học những kĩ năng cơ bản, biết cách vận dụng những kiến thức  
về toán, rèn luyện khả năng thực hành với những yêu cầu được thực hiện một  
cách đa dạng, phong phú. Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh có điều kiện  
rèn luyện và phát triển khả năng tư duy, rèn phương pháp suy luận những  
phẩm chất của người lao động mới.  
Thông qua việc hình thành các khái niệm toán học, giúp học sinh lĩnh hội  
các kiến thức vận dụng vào giải toán một cách linh hoạt, sáng tạo. Điều đó  
giúp cho học sinh có thói quen độc lập suy nghĩ, làm việc kế hoạch, kiểm  
tra, khẳng định, căn cứ, tác phong cẩn trọng, có ý thức muốn cải tiến, tìm tòi  
cái mới. Việc giải Toán đòi hỏi học sinh phải tự mình xem xét vấn đề tự tìm  
cách giải quyết vấn đề do đó giải toán là cách tốt nhất rèn luyện tính kiên trì,  
chịu khó, tự lực trong cuộc sống, từ đó nâng cao chất lượng toàn diện cũng như  
việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, đem lại lợi ích thiết thực cho  
học sinh. Tạo nền móng vững chắc cho công tác bồi dưỡng học sinh có năng  
khiếu về tư duy Toán học cho các cấp tiếp theo.  
Tôi thiết nghĩ một giáo viên trong giai đoạn đất nước ta đang trong  
thời hội nhập, nền kinh tế và xã hội Việt Nam đang đứng trước những cơ hội  
và thách thức rất lớn. Để nguồn nhân lực có trình độ ở nhiều lĩnh vực phục vụ  
cho đất nước , rõ ràng chúng ta cần sự chuẩn bị tốt về vốn người cho sự phát  
triển. Như chúng ta đã biết, mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam là nhằm đào  
2/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
tạo ra những con người được phát triển toàn diện với đầy đủ phẩm giá: Có trình  
độ, có nhân cách, có khả năng tư duy phê phán độc lập, sáng tạo... thế, để góp  
phần đạt mục tiêu ấy ta cần phải đặt ra một câu hỏi: Cần hành động theo phương  
châm nào? Và bằng phương pháp nào?  
Từ thực tế giảng dạy học tập của giáo viên và học sinh, nhất là quá  
trình dạy phân hóa đối tượng ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng có  
một số dạng toán: Chẳng hạn việc tính toán cơ bản, dấu hiệu chia hết, sự nhận  
biết thông thường chỉ cần người học nắm vững các bước tuần tự đã được tổng  
kết đầy đủ trong sách vở để dễ dàng có ngay kết quả. Tuy nhiên các em cũng  
thường gặp những bài toán cần sự tư duy linh hoạt thì nhiều em tuy chăm chỉ,  
thuộc lòng công thức của dạng toán song vẫn chưa tìm ra đáp án hay câu trả lời.  
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này, đó là ta chưa đào sâu suy nghĩ. Đồng  
thời do tính đa dạng muôn màu, muôn vẻ của Toán học thật khó đúc kết thành  
nguyên tắc. Từ đó chưa tìm ra được "chìa khóa" giải quyết vấn đề đưa ra.  
Do chương trình dạy " Dấu hiệu chia hết" ở lớp 4 được dạy không nhiều .  
Trong 6 tiết thì có 4 tiết hướng dẫn tìm hiểu và 2 tiết luyện tập chung, vì vậy  
các em khó có thể nắm hết được sự đa dạng của các bài toán để đi sâu vào các  
kho tàng kiến thức chứa đựng các dạng toán. Nếu ta trang bị thêm cho các em  
một phần kiến thức cơ bản thì các em có thể dễ dàng nhận diện được và khi đó  
thể đưa về hoặc sử dụng các bài toán quen thuộc để giải quyết.  
Vậy tôi xin đề cập một phần nhỏ trong chương trình học của môn Toán ở  
lớp 4. Đó là: Các dấu hiệu chia hết trong số tự nhiên. Mun rõ một số có chia  
hết cho một số khác không ta phải thực hiện phép chia, nhiều khi hết sức phức  
tạp. Nhưng thể ta không cần thực hiện phép chia, ta cũng thể nhận biết  
được một số thể chia hết cho một số khác không hoặc có chia hết cho nhiều  
số khác không? Đó là ta đã dựa vào các dấu hiệu chia hết. Vấn đề này dựa vào  
các dấu hiệu dạy toán ở lớp 4 với dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5, cho 9, cho 3.  
Ngoài những dấu hiệu chia hết trên, đối với học sinh có khả năng tư duy Toán  
tốt, ta có thể mở rộng cho các em nắm được một số dấu hiệu chia hết khác như  
dấu hiệu chia hết cho 8, cho 7, cho 11, cho 4,.. các tính chất liên quan đến phép  
chia có dư để các em có thể giải tốt các đề toán.  
Ta thấy các dấu hiệu chia hết - phép chia có trong chương trình lớp 4  
phần rất quan trọng, không thể thiếu nó vì nó là cơ sở để giải một số dạng  
toán ở tiểu học. Dạng toán:  
- Tính nhanh giá trị biểu thức.  
- Rút gọn phân số, quy đồng mẫu s(tìm mẫu số chung).  
3/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
- Tìm điều kiện đphân số có giá trị số tự nhiên.  
- Viết các số tự nhiên theo dấu hiệu chia hết.  
- Dùng dấu hiệu chia hết để điền các chữ số chưa biết.  
- Các bài toán về vận dụng tính chất chia hết của một tổng một hiệu.  
- Các bài toán về phép chia có dư.  
- Chứng tỏ một số hoặc một biểu thức chia hết cho ( hoặc không chia hết  
cho) một số nào đó.  
- Cấu tạo số.  
- Tìm chữ số tận cùng.  
- Giải các bài toán có lời văn.  
- Các bài toán liên quan đến hình học.  
- Trò chơi – Toán vui.  
Hơn thế nữa, việc nắm chắc dấu hiệu chia hết còn là cơ sở cho việc phân  
tích 1 số ra thừa số nguyên tố, việc tìm ƯSCLN, BSCNN để phục vụ cho việc  
học toán ở lớp 5 và các bậc học tiếp theo. Chính vì vậy, để học sinh học tốt và  
nắm chắc kiến thức về dạng toán này, tôi đi tìm hiểu, nghiên cứu đưa ra “Một  
số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến dấu  
hiệu chia hết”  
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:  
Nghiên cứu về các dấu hiệu chia hết trong số tự nhiên giúp cho giáo viên  
nắm sâu hơn về các kiến thức cơ bản chia hết. Đa dạng hóa trong vận dụng kiến  
thức, giúp cho học sinh nắm chắc kiến thức này vận dụng vào các kiến thức có  
liên quan. Góp phần tìm ra cách vận dụng linh hoạt các kiến thức cơ bản của  
môn học nhằm phát triển năng lực trí tuệ về môn toán cho học sinh lớp 4.  
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU  
- Phạm vi nghiên cứu:  
+ Tìm hiểu các dấu hiệu chia hết - phép chia có trong chương trình Toán 4.  
+ Nghiên cứu các dạng chia hết dạng chia có dư  
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng  
toán có liên quan đến dấu hiệu chia hết.  
- Thời gian nghiên cứu: 1 năm học.  
VI. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:  
- Phương pháp nghiên cứu luận.  
- Phương pháp đàm thoại.  
- Phương pháp thực hành.  
- Phương pháp tổng hợp rút kinh nghiệm bước đầu thực nghiệm.  
4/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
PHẦN II: NỘI DUNG  
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LUẬN CƠ SỞ THỰC TIỄN  
1. CƠ SỞ LUẬN  
* Tầm quan trọng của môn Toán ở Tiểu học  
Bậc tiểu học bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho  
việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh trên cơ sở cung cấp những tri  
thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội phát triển các năng lực nhận thức  
trang bị các phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức hoạt  
động thực tiễn, bồi dưỡng và phát triển tình cảm, thói quen, đức tính tốt đẹp của  
con người.  
Mục tiêu nói trên được thực hiện thông qua việc dạy các môn học nói chung,  
môn Toán nói riêng. Cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí đặc biệt  
quan trọng. Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học nhiều ứng dụng  
trong đời sống, chúng cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn  
học khác, học tiếp môn toán Trung học. Nhờ học toán, học sinh có phương  
pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có  
hiệu quả trong đời sống. Bên cạnh đó, môn toán còn góp phần rất quan trọng  
trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề, góp  
phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, góp  
phần vào việc hình thành các phẩm chất của người lao động như: cần cù, cẩn  
thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc kế hoạch, nề nếp và tác phong khoa  
học.  
* Tầm quan trọng của dạy nhận biết dấu hiệu chia hết giải các bài toán  
liên quan đến dấu hiệu chia hết cho học sinh lớp 4  
Do chương trình dạy " Dấu hiệu chia hết" ở lớp 4 có không nhiều (dạy 6  
tiết gồm thì 4 tiết hướng dẫn tìm hiểu và 2 tiết luyện tập chung ). Người ta chỉ  
dạy cho học sinh điều kiện đủ của các dấu hiệu chia hết cho 2 (hoặc 5, 3, 9) mà  
chưa đề cập đến điều kiện cần. Nội dung kiến thức về dấu hiệu chia hết cho 2, 5,  
3, 9 được cung cấp cho học sinh lớp 4 theo trình tự sau:  
Ta có thể phân thành hai nhóm:  
a. Dấu hiệu chia hết cho 2 và 5  
Hai dấu hiệu này giống nhau ở yếu tố. Dùng để xác định một số có chia  
hết cho 2 hoặc 5 hay không, đều căn cứ vào chữ số tận cùng của nó. Ta còn gọi  
là : Dấu hiệu tận cùng”.  
5/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
b. Dấu hiệu chia hết cho 3 và 9  
Hai dấu hiệu này có cùng yếu tố dùng để xác định một số có cùng chia  
hết cho 3 hoặc 9 hay không. Đó căn cứ vào tổng các chữ số của số đó có chia  
hết cho 3 hoặc 9 hay không. Ta có thể gọi là : Dấu hiệu tổng”  
Các bài toán về dấu hiệu chia hết - phép chia có dư thường rất đa dạng,  
phong phú, có nhiều cách giải, cách suy luận, liên quan chặt chẽ đến nhiều kiến  
thức đã học cũng như vốn hiểu biết của học sinh. Việc tìm cách giải khác nhau  
của một bài toán khó ở dạng này gắn liền với việc nhìn một vấn đề dưới nhiều  
khía cạnh khác nhau, mở đường cho sự sáng tạo phong phú. Việc dạy các dấu  
hiệu chia hết - phép chia có dư nhằm cung cấp cho học sinh khả năng suy  
luận, góp phần phát triển năng lực trí tuệ. Chính vì vậy, việc dạy dấu hiệu chia  
hết và các bài toán liên quan đến dấu hiệu chia hết cho học sinh lớp 4 là một  
việc làm quan trọng trong giảng dạy nói chung và trong công tác bồi dưỡng học  
sinh có khả năng tư duy tốt môn Toán nói riêng các trường Tiểu học.  
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN  
Trong thực tế giảng dạy nhiều giáo viên cho rằng chỉ cần nêu cho  
học sinh nắm được một số tính chất chia hết, dấu hiệu chia hết trong sách  
giáo khoa và vận dụng giải bài tập trong sách giáo khoa là đủ. Phương pháp  
chung trong việc dạy về dấu hiệu chia hết chủ yếu phương pháp vấn đáp, gợi  
mở, đi từ bảng chia để dẫn dắt học sinh rút ra kết luận về dấu hiệu bằng các câu  
hỏi gợi ý và phương pháp luyện tập củng cố kiến thức. Qua dự giờ thăm lớp,  
trao đổi trực tiếp với đồng nghiệp thì một số giáo viên nắm nội dung điều kiện  
cần đủ của các dấu hiệu chia hết chưa sâu. Giáo viên vận dụng chưa thật linh  
hoạt phương pháp dạy học mới bằng hình thức giao việc theo sự chỉ dẫn của  
giáo viên để học sinh tự tìm ra kiến thức. Giáo viên chưa thực sự chú trọng lắm  
trong rèn luyện nâng cao việc giải toán, có liên quan đến dấu hiệu chia hết trong  
phụ đạo ngoài giờ hoặc làm thêm các bài tập nâng cao khi các em đã được học  
xong chương trình này  
Bài 1: Trong các số: 7435, 4568, 66811, 2050, 2229, 35766.  
a. Số nào chia hết cho 2?  
b. Số nào chia hết cho 3?  
c. Số nào chia hết cho5?  
d. Số nào chia hết cho 9?  
Với dạng bài tập này, đa số học sinh làm tốt nghĩa là các em vận dụng  
được nắm chắc chắn về dấu hiệu chia hết chiếm 92,7%  
6/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
Bài 2: Tìm chữ số thích hợp viết vào dấu ô trống sao cho:  
a. 58 chia hết cho 3  
b. 63 chia hết cho 9  
c. 24chia hết cho cả 3 và 5  
d. 35chia hết cho cả 2 và 3  
Học sinh vận dụng được vận dụng chắc chắn dấu hiệu chia hết ở bài tập  
này chiếm 82,2%  
Bài 3: Tìm số có 2 chữ số sao cho khi lấy số đó chia cho 2 1, chia cho 3 dư  
2, chia cho 5 4, chia cho 6 5.  
- Học sinh vận dụng được vận dụng linh hoạt dấu hiệu chia hết để giải các  
bài tập nâng cao đạt 37.5%  
Nếu chỉ đơn thuần như vậy thì không phát huy được năng lực suy luận  
phát triển trí tuệ của học sinh khi gặp bài toán về chia hết và phép chia có  
dư. Đặc biệt dạng toán liên quan đến phép chia có và các tính chất, các  
lưu ý nhằm giúp học sinh làm tốt dạng toán này lại không có trong chương  
trình toán 4. Chính vì vậy học sinh sẽ bế tắc dẫn đến một số học sinh làm  
một cách máy móc, dập khuôn. Với thực trang khảo sát kết quả đầu năm về  
nội dung bài tập có liên quan đến dấu hiệu chia hết như sau:  
KẾT QUẢ ĐẦU NĂM ĐỐI VỚI DẠNG BÀI  
VỀ DẤU HIỆU CHIA HẾT  
Hc sinh hiu, nm chc ni  
Hc sinh  
dung bài, vn dng kiến thc  
linh hot  
Hc sinh hiu bài  
chưa hiu bài  
Sĩ số  
Số  
%
Số  
Slượng  
%
%
lượng  
lượng  
59  
20  
38%  
30  
50%  
9
12%  
Điều đó chứng tỏ rằng học sinh tiếp thu kiến thức về dấu hiệu chia hết  
không khó khăn, ngay cả học sinh trung bình, yếu song khả năng vận dụng  
dấu hiệu chia hết để lập luận, giải thích vấn đề trong bài tập còn yếu. Nhất là các  
em còn lúng túng khi vận dụng để giải các bài tập nâng cao.(Ngay cả học sinh  
khá, giỏi) và các em chưa biết vận dụng linh hoạt các dấu hiệu chia hết bằng  
cách phân các nhóm để dễ nhận biết hơn.  
Qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm của  
đồng nghiệp, tôi thấy việc dạy về các dấu hiệu chia hết không chỉ dạy gói  
7/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
gọn trong sách giáo khoa mà còn dạy mở rộng thêm ở mỗi phần, mỗi bài  
dạy cho học sinh trong từng tiết học hàng ngày trên lớp đặc biệt là trong  
các tiết Hướng dẫn học.  
Mở rộng cho học sinh một số dấu hiệu khác như chia hết cho 4, cho7,  
cho 8, cho 11,... và về chia hết cho một tổng, một hiệu, một tích cần có  
những bài toán tổng quát hơn. Từ đó phát huy được tính tích cực, chủ động  
sáng tạo từ đó giúp học sinh nắm vững kiến thức, vận dụng kiến thức có  
tính hệ thống, logic và đạt hiệu quả tốt.  
Trong giảng dạy giáo viên là người hướng dẫn, tạo sự hứng thú, gợi  
động cơ học tập cho học sinh. Mở rộng kiến thức, hiểu sâu dạng toán là nhân  
tố quan trọng trong việc phát triển các thao tác duy, phân tích, tổng hợp,  
khái quát hóa. Đồng thời về mặt ngôn ngữ cần chú trọng phân tích cấu trúc,  
phát triển nội dung và luyện tập cho học sinh, củng cố khái niệm tạo sự khái  
quát hóa, hệ thống hóa. Để khắc phục tình trạng nói trên cần những biện  
pháp sau:  
CHƯƠNG II: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN  
Các biện pháp hình thành kiến thức cho học sinh theo trình tự sau:  
Bước 1: Giúp học sinh nắm vững dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 9, 3 thì giáo  
viên cần phải:  
- Nắm vững nội dung của điều kiện cần đủ của các dấu hiệu chia hết phải  
nắm chắc sử dụng thành thạo phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với  
học sinh.  
- Cần sự chuẩn bị trước bài dạy để khả năng dẫn dắt học sinh biết cách  
sử dụng các dấu hiệu một cách chặt chẽ, logic.  
- Cần nắm hiểu nội dung trình bày của sách giáo khoa để từ đó  
định hướng, dẫn dắt các em nắm vững kiến thức.  
- Cần vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học mới bằng hình thức sử dụng  
phiếu giao việc theo sự chỉ dẫn của giáo viên để học sinh tự phát hiện và tìm ra  
kiến thức mới. Từ đó giúp các em nắm vững nội dung các dấu hiệu chia hết để  
vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào việc giải các bài tập có liên quan.  
Bước 2: Trong quá trình hình thành kiến thức mới cho học sinh cần đi  
theo các bước sau:  
8/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
- Phát hiện các số chia hết cho 2 (hoặc 5, 9, 3) từ các bảng chia đã học  
tìm ra đặc điểm của các chia hết cho 2 (hoặc 5, 9, 3) trong các bảng vừa nêu.  
- Tìm các số khác nhau có đặc điểm giống nhau với các số bị chia trong  
các bảng chia nêu trên cho học sinh so sánh, đối chiếu để tìm ra điểm chung  
của các số chia hết cho 2 (hoặc 5, 9, 3).  
- Lấy bất kỳ một số nào đó có cùng đặc điểm với các số chia hết cho 2 (hoặc  
5, 9, 3) dưới dạng Điều kiện đủ chính là câu ghi nhớ trong sách giáo khoa.  
Bước 3: Khi các em nắm vững kiến thức thuộc cách nhận biết các dấu hiệu  
các bài tập trong sách Toán 4 cho các em làm những bài tập mở rộng thêm các  
dấu hiệu, phát triển các bài tập từ các dấu hiệu đã học .  
Việc áp dụng các kiến thức đã học và phát triển kiến thức được thực hiện  
một cách linh hoạt trong từng tiết học bằng cách đan xen củng cố kiến thức đồng  
thời cũng nâng cao ở cuối mỗi tiết tìm hiểu kiến thức mới.  
dụ : Khi dạy bài dấu hiệu chia hết cho 2.  
+ Phần tìm hiểu bài và vận dụng kiến thức vào phần thực hành của học  
sinh có thể sử dụng với thời lượng khoảng 25’ -> 30’ phần lớn các em có thể  
nắm được hoặc nắm chắc dấu hiệu và phát hiện dấu hiệu chắc chắn. Vậy thời  
gian còn lại thể mở rộng thêm cho các em về dấu hiệu chia hết cho 4. Như vậy  
trong một tiết học bài mới học sinh có thể phát huy hết khả năng tư duy sáng tạo  
của mình và đồng thời phân hóa được từng đối tượng học sinh.  
+ Tiếp theo việc ôn tập để củng cố mở rộng kiến thức giúp học sinh  
nắm vững các dấu hiệu thông qua các bài tập luyện tập lại tiếp tục được thực  
hiện song song trong các tiết Hướng dẫn học vào buổi chiều.  
dụ: Khi tìm hiểu dấu hiệu chia hết cho 2 , 5 ta có thể dạy kết hợp dạy tìm  
dấu hiệu chia hết cho 2 và 5. Nhằm giúp học sinh nhận biết dấu hiệu “ Xét chữ  
số tận cùng” tự rút ra kết luận: “Những schia hết cho cả 2 và 5 có tận cùng  
chữ số 0”.  
+ Tương tự sau khi tìm hiểu hết dấu hiệu chia hết cho 9, 3 ta có kết hợp dạy tìm  
dấu hiệu chia hết cho 9 và 3. Nhằm giúp học sinh nhận biết dấu hiệu “ Xét tổng  
các chữ số tự rút ra kết luận: “Tổng các chữ số trong một số chia hết cho 9  
thì cũng chia hết cho 3”.  
+ Kết hợp tìm dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 9 và 3. Hướng dẫn cho học sinh xét  
“Dấu hiệu tận cùng” trước để xét “Dấu hiệu tổng”........  
-> Cụ thể được thực hiện như sau:  
9/41  
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến  
“Dấu hiệu chia hết”  
A. NHẬN BIẾT CÁC DẤU HIỆU CHIA HẾT  
I. DẤU HIỆU CHIA HẾT CHO 2:  
Học sinh nắm vững được dấu hiệu chia hết cho 2 (số tận cùng 0, 2, 4,  
6, 8) và vận dụng để nhận biết một số số có chia hết cho 2 hay không?  
1. Giáo viên giảng:  
Trong mỗi bảng chia đã học các số bị chia đều chia hết cho số chia. Dựa  
vào bảng chia cho 2, em hãy nêu các số chia hết cho 2.  
- HS trả lời, GV ghi bảng:  
2, 4, 6, 8, 10.  
12, 14, 16, 18, 20.  
+ GV: Các số chia hết cho 2 trên có tận cùng bằng những chữ số nào? (0,  
2, 4, 6, 8).  
+ HS tự lấy một số bất kỳ (khác các số trên) có tận cùng bằng 0 hoặc 2,  
hoặc 4, hoặc 6, hoặc 8. Hãy tính xem số đó có chia hết cho 2 hay không? (có).  
dụ: 820 : 2 = 410; 522 : 2 = 261; 434 : 2 = 217; 636 : 2 = 318; 728 : 2 = 364  
Kết luận: Những số tận cùng bằng 0, 2, 4, 6, 8 đều chia hết cho 2.  
+ GV giới thiệu thêm:  
Các số chia hết cho 2 là những số chẵn.  
Các số không chia hết cho 2 là những số lẻ.  
2. Luyện tập:  
Bài 1: Với 3 chữ số đã cho (0, 1, 4) viết tất cả các số có 3 chữ số chia hết cho 2.  
- GV hướng dẫn: Lập số có 3 chữ số từ 3 chữ số sẵn.  
Số chia hết cho 2 thì tận cùng số đó chữ số nào?  
- HS vận dụng thuyết để viết được số chia hết cho 2 từ 3 chữ số cho  
trước là 104, 140, 410.  
Bài 2: Viết vào dấu * ở số  
một chữ số để được số có 3 chữ số và:  
86 *  
- Là số chia hết cho 2.  
- Là số không chia hết cho 2.  
(Viết tất ccác số thể viết được)  
GV hướng dẫn học sinh là: Du * là dấu biểu thị chữ số ở hàng nào? Yêu  
cầu của đlà gì?  
HS viết được schia hết cho 2 là: 860; 862; 864; 866; 868  
Số không chia hết cho 2 là: 861; 863; 865; 867; 869  
10/41  

Tải về để xem bản đầy đủ

doc 43 trang minhvan 26/01/2025 470
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các dạng toán có liên quan đến “dấu hiệu chia hết”", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_4_lam_tot_cac_dang_t.doc