SKKN Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5

Toán học có vị trí rất quan trọng trong cuộc sống thực tiễn. Đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thế giới xung quanh, hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực.
Phßng gi¸o dôc vµ ®µo t¹o quËn Thanh Xu©n  
---------------  
Mã SKKN  
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm  
§Ò tµi:  
“Kinh nghiÖm d¹y c¸c bµi to¸n vÒ chuyÓn ®éng ®Òu  
cho häc sinh líp 5”  
LÜnh vùc/M«n: To¸n  
N¨m häc: 2015-2016  
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
môc lôc  
PhÇn I: Më ®Çu ............................................................................................2  
I. Lý do chän ®Ò tµi..............................................................................................3  
II. Môc ®Ých nghiªn cøu ......................................................................................3  
III. §èi t-îng – ph¹m vi nghiªn cøu .................................................................3  
IV. NhiÖm vô nghiªn cøu ...................................................................................3  
PhÇn II: Néi dung.......................................................................................4  
I. Mét sè vÊn ®Ò vÒ ®Æc ®iÓm t- duy cña häc sinh líp 5......................................4  
II. §Æc ®iÓm cña c¸c bµi to¸n chuyÓn ®éng ®Òu..................................................5  
III. Mét sè néi dung, ph-¬ng ph¸p d¹y gi¶i to¸n chuyÓn ®éng ®Òu ....................5  
IV. KÕt qu¶ kiÓm tra kh¶o s¸t ë thùc tiÔn............................................................10  
V. Ph-¬ng ¸n d¹y gi¶i c¸c bµi to¸n chuyÓn ®éng ®Òu ë líp 5............................14  
VI. KÕt qu¶ ¸p dông.............................................................................................26  
PhÇn III: KÕt luËn khuyÖn nghÞ ...................................................27  
1
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
PHẦN I  
MỞ ĐẦU  
I. Lý do chọn đề tài  
Toán học vị trí rất quan trọng trong cuộc sống thực tiễn. Đó cũng là  
công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thế  
giới xung quanh, hoạt động hiệu quả trong mọi lĩnh vực.  
Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn: Nó phát triển tư duy,  
trí tuệ, có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tính suy luận, tính khoa học  
toàn diện, chính xác, duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, góp phần giáo dục tính  
nhẫn nại, ý chí vượt khó khăn.  
Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra cho  
người thầy là làm thế nào để giờ dạy học toán có hiệu quả cao, học sinh phát  
triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học.  
Theo tôi, các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí, mục  
đích nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục của bài học môn toán. Nó không phải là  
cách thức truyền thụ kiến thức, cách giải toán đơn thuần mà là phương tiện tinh  
vi để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm  
việc một cách khoa học, hiệu quả.  
Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp  
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt động dạy  
học trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả”. Để đạt được yêu cầu đó, giáo viên  
phải phương pháp và hình thức dạy học để vừa nâng cao hiệu quả cho học  
sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học và trình độ  
nhận thức của học sinh, để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói  
chung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng.  
Xét riêng vloi toán chuyển động đều lp 5, ta thấy đây loại toán  
khó, nội dung phong phú, đa dạng. Vì thế cần phải phương pháp cụ thể đề ra  
để dy gii các bài toán chuyển động đều nhm nâng cao chất lượng ging dy  
2
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
ca giáo viên, phát triển khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng to ca hc sinh  
tiểu học.  
Bên cạnh đó ta còn thấy các bài toán chuyển động đều rất nhiều kiến  
thức được áp dụng vào thực tế cuộc sống. thế bài toán chuyển động đều cung  
cấp một lượng vốn sống hết sức cần thiết cho một bộ phận các em học sinh  
không có điều kiện học tiếp bậc phổ thông cơ sở phải nghỉ học để bước vào  
cuộc sống lao động sản xuất.  
Từ nhiều lí do nêu trên, tôi chọn đề tài “ Kinh nghiệm dạy các bài toán về  
chuyển động đều cho học sinh lớp 5” với mong muốn đưa ra giải pháp nhằm  
nâng cao chất lượng dạy học các bài toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5.  
II. Mục đích nghiên cứu  
- Nhằm nâng cao chất lượng giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5.  
- Giúp học sinh hình thành kỹ năng, sử dụng thành thạo vận dụng một  
cách linh hoạt các kiến thức trong giải toán chuyển động đều.  
III. Đối tượng phạm vi nghiên cứu  
-- Đối tượng: HS lớp 5.  
- Phạm vi: Dạng toán chuyển động đều trong chương trình Toán lớp 5.  
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Xây dựng cơ sluận cho đề tài.  
- Xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài.  
- Tìm hiểu nội dung, phương pháp để hình thành, khắc sâu và vận dụng  
kiến thức.  
- Thực nghiệm sư phạm.  
3
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
PHẦN II  
NỘI DUNG  
I. Một số vấn đề về đặc điểm tư duy của học sinh lớp 5  
1. Khả năng tri giác của học sinh lớp 5  
Ở độ tuổi đầu cấp Tiểu học, tri giác của các em còn gắn liền với hoạt  
đông thực tiễn (rờ, nắn, cầm, bắt), nhưng với học sinh lớp 5, tri giác của các  
em không còn gắn với hoạt động thực tiễn, các em đã phân tích được từng  
đặc điểm của đối tượng, biết tổng hợp các đặc điểm riêng lẽ theo quy định.  
Tuy nhiên, do khả năng chú ý chưa cao nên các em vẫn hay mắc sai lầm khi  
tri giác bài toán như : đọc thiếu đề, chép sai hay nhầm lẫn giữa các bài toán  
na ná giống nhau.  
2. Khả năng chú ý của học sinh lớp 5  
Đối với bài toán chuyển động đều, đặc điểm chung là mỗi đề toán  
thường rất dài, không đọc kĩ thì rất dễ nhầm. Để phân biệt được ý nghĩa của  
từ, cụm từ trong bài cho chính xác, học sinh thường mắc phải lỗi thiếu chú ý  
tới từ cảm ứng có trong bài mà trong quá trình giải toán, nhất là bài toán  
chuyển động đều thì đó là “chìa khóa” vô cùng quan trọng.  
Như vậy, sức chú ý của học sinh chưa thật bền vững và chóng mệt mỏi.  
Cho nên trong quá trình làm một bài toán có thể các em tìm hiểu, phân tích  
đề lập kế hoạch giải rất nhanh, nhưng cuối bài lại trình bày rời rạc, chất  
lượng bài giải không cao.  
3. Đặc điểm trí nhớ của học sinh lớp 5  
Học sinh tiểu học thường ghi nhớ một cách máy móc do vốn ngôn ngữ  
còn ít. Vì thế các em thường có xu hướng học thuộc lòng từng câu, từng chữ  
nhưng không hiểu gì. các em, trí nhớ trực quan hình tượng phát triển mạnh  
hơn trí nhớ lôgic. Cho nên các em giải các bài toán điển hình như toán  
chuyển động đều một cách máy móc dựa trên trí nhớ về phép tính cơ bản.  
4
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
Khi gặp bài toán nâng cao học sinh rất dễ mắc sai lầm. Trí nhớ của các em  
không đủ để giải quyết các mâu thuẩn trong bài toán.  
Tuy nhiên, học sinh lớp 5 đã biết phối hợp sử dụng tất cả các giác quan  
để ghi nhớ một cách tổng hợp. Bước đầu nhiều biện pháp ghi nhớ tốt hơn  
các tài liệu hoặc kiến thức đã học.  
4. Đặc điểm về tưởng tượng của học sinh tiểu học  
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng còn rất bỡ ngỡ  
trước một số thao tác duy như : so sánh, phân tích, suy luận Khả năng  
khái quát thấp, nếu có thì chỉ thể dựa vào dấu hiệu bên ngoài.  
Đối với bài toán chuyển động đều, đòi hỏi ở học sinh sự linh hoạt và  
khả năng suy luận, diễn dịch tốt. Loại toán này không giải bằng công thức đã  
sẵn mà các em còn phải biết phân tích, suy luận, diễn giải từ những dữ  
kiện của bài toán, để từ đó vận dụng những kiến thức đã sẵn, tháo gỡ mâu  
thuẩn và các tình huống đặt ra trong bài toán.  
5. Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 5  
Ngôn ngữ của học sinh lớp 5 đã phát triển mạnh mẽ về ngữ âm, ngữ  
pháp và từ ngữ. Riêng học sinh lớp 5 đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp  
cơ bản. Tuy nhiên, khi giải toán do bị chi phối bởi các dữ kiện, giả thiết nên  
trình bày bài giải thường mắc sai lầm như : sai ngữ pháp, chưa rõ ý, lủng  
củng. Có em chưa hiểu từ dẫn đến hiểu sai đề và làm lạc đề.  
II. Đặc điểm của các bài toán chuyển động đều  
Toán chuyển động đều dạng toán có liên quan và ứng dụng trong thực  
tế, học sinh phải tư duy, phải có óc suy diễn phải đôi chút hiểu biết về  
thực tế cuộc sống.  
Toán chuyển động luôn bao gồm: Vật chuyển động, thời gian, vận tốc,  
quãng đường. dạng toán dùng câu văn.  
Nằm trong xu thế đó, toán chuyển động đều không chỉ giúp học sinh  
đào sâu, củng cố kiến thức cơ bản về loại toán này mà nó còn cũng cố nhiều  
kiến thức, kỹ năng cơ bản khác như kiến thức đại lượng tỉ lệ thuận đại  
5
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
lượng tỉ lệ nghịch, kỹ năng tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, kỹ năng diễn đạt,  
tính toán ...  
Dạy giải các bài toán chuyển động đều góp phần bồi dưỡng năng khiếu  
toán học: một trong những thể loại toán điển hình có tính mũi nhọn, bài  
toán chuyển động đều đặc biệt quan trọng. Nó góp phần không nhỏ trong  
việc phát hiện học sinh năng khiếu qua các kì thi, bởi đi sâu tìm hiểu bản  
chất của loại toán này ta thấy nó là loại toán phức tạp, kiến thức không nặng  
nhưng nhiều bất ngờ ở từng bước giải. Gần đây, loại toán này được sử dụng  
khá rộng rãi trong việc ra các đề thi và các tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên  
học sinh.  
Dạy giải các bài toán chuyển động đều gây hứng thú toán học, giáo dục  
tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho học sinh: Ở bậc tiểu học nói chung và  
học sinh lớp 5 nói riêng, do đặc điểm nhận thức lứa tuổi nayfcacs em chỉ hay  
làm những việc mình thích, những việc nhanh thấy kết quả. Trong quá trình  
hệ thống hóa các bài toán chuyển động đều, tôi thấy để đi được đến bước  
dùng công thức cơ bản để tìm đáp số của bài toán, học sinh phải xử rất  
nhiều chi tiết phụ nhưng rất quan trọng của bài toán. Ở mỗi bài lại có các  
bước phân tích, tìm lời giải khác nhau. Điều này đòi hỏi mỗi học sinh phải  
tích cực, chủ động, sáng tạo. Các tình huống của bài toán phải xử lý linh  
hoạt, chính xác để cuối cùng đưa bài toán về dạng đơn giản, điển hình.  
Qua giải bài toán chuyển động đều, không chỉ tạo được sự hứng thú say  
ở mỗi học sinh, mà còn tạo cho các em một phong cách làm việc khoa  
học chính xác, cần mẫn và sáng tạo.  
Dạy giải các bài toán chuyển động đều góp phần cung cấp vốn hiểu biết  
về cuộc sống cho học sinh tiểu học : Các kiến thức trong toán chuyển động  
đểu rất gần gũi với thực tế hàng ngày như làm thế nào để tính được quãng  
đường, thời gian, vận tốc ... Chính những bài toán chuyển động đều sẽ đáp  
ứng được những yêu cầu đó cho các em.  
Như vậy, đi sâu tìm hiểu vai trò của việc dạy giải toán chuyển động đều,  
ta thấy rằng quá trình dạy giải toán nói chung và dạy giải toán chuyển động  
6
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
đều nói riêng góp phần không nhỏ vào việc phát triển và hình thành nhân  
cách toàn diện cho học sinh.  
III. Một số nội dung, phương pháp dạy giải toán chuyển động đều  
1. Bài toán chuyển động đều  
Bài toán được khéo léo đưa ra và giới thiệu với học sinh lớp 4 dưới  
dạng các bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận đại lượng tỉ lệ nghịch. Qua đó  
học sinh bước đầu nắm được mối quan hệ giữa các đại lượng trong toán  
chuyển động đều. Hệ thống bài toán chỉ những dụ đơn giản. Sang lớp 5,  
toán chuyển động đều mới chính thức thể hiện vị trí của mình, là bộ phận của  
chương trình toán tiểu học, tuy nhiên với kiến thức cơ bản sơ đẳng nhất.  
Ba đại lượng : quãng đường, thời gian, vận tốc được sách giáo khoa chia nhỏ  
trong chương trình và giới thiệu riêng từng đại lượng.  
* Phân loại toán chuyển động đều  
Toán chuyển động đều được phân loại dựa vào quan điểm nâng cao, đi  
từ đơn giản đến phức tạp, thể hiện như sau :  
a) Loại đơn giản (Giải trực tiếp bằng công thức cơ bản, dành cho các  
tiết dạy học bài mới.)  
Dạng 1: Tính vận tốc của một chuyển động.  
- Có quãng đường ,thời gian . Tính vận tốc.  
- Cách làm: lấy quãng đường chia cho thời gian.  
- Công thức : v = s : t  
Lưu ý : Đơn vị vận tốc km/giờ, m/phút, m/giây.  
Dạng 2: Tìm quãng đường.  
- Có vận tốc , thời gian . tính quãng đường.  
- Cách làm : lấy vận tốc nhân với thời gian.  
- Công thức: s = v x t  
- Lưu ý :Đơn vị quãng đường là : km, m.  
Dạng 3: Tìm thời gian.  
- Có quãng đường vận tốc. Tính thời gian.  
- Cách làm: lấy quãng đường chia vận tốc.  
7
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
- Công thức: t = s : v  
- Lưu ý : Đơn vị thời gian là: giờ ,phút, giây.  
b) Dạng toán chuyển động đều - loại phức tạp: ( giải bằng công thức  
suy luận - dành cho các tiết luyện tập, thực hành)  
Dạng 1: Hai động tử chuyển động ngược chiều nhau (xa nhau, gần nhau)  
- Quãng đường = Tổng vận tốc x thời gian.  
+ Công thức: s = (v1+v2) x t.  
- Thời gian = Quãng đường : Tổng vận tốc.  
+ Công thức: t = s : (v1+v2)  
- Tổng vận tốc = Quãng đường : thời gian.  
+ Công thức: (v1+v2)= s : t  
Dạng 2: Hai động tử chuyển động cùng chiều đuổi kịp nhau.  
- Tìm khoảng cách của 2 động tử cùng chiều đuổi kịp nhau ta lấy hiệu vận  
tốc nhân với thời gian đuổi kịp, ta xây dựng các công thức:  
+ s = (v1-v2) x t.  
+ t = s : (v1-v2).  
+ (v1-v2) = s : t.  
Dạng 3: Vật chuyển động trên dòng sông.  
- V xuôi dòng = V riêng + V dòng nước.  
- V ngược dòng = V riêng – V dòng nước.  
- V dòng nước = (V xuôi dòng + V ngược dòng) : 2.  
Dạng 4: Vật chuyển động chiều dài đáng kể.  
- Chuyển động của vật co chiều dài đáng kể là L chạy qua các vật trong  
các trường hợp.  
+ Vật chuyển động qua cột mốc: Thời gian qua cột mốc bằng chiều dài  
vật chia vận tốc vật ( t = L : v)  
+ Vật chuyển động qua cầu chiều dài là d ta có: Thời gian đi qua = ( L  
+ d) : v vật.  
Dạng 5: Bài toán chuyển động dạng “Vòi nước chảy vào bể”  
8
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
- Với loại toán này thường có 3 đại lượng chính là Thể tích của nước ta  
coi tương tự như tính với quãng đường S; Thể tích này thường tính theo lít hoặc  
m3 hay dm3;  
Lưu lượng nước vận dụng công thức tính tương tự như với vận tốc V; Đại lượng  
này thường tính theo đơn vị lít/phút hoặc lít/ giây hay lít/giờ. Thời gian chảy của  
vòi nước vận dụng tính tương tự như thời gian trong toán chuyển động đều.  
Cách giải loại toán này ta phải áp dụng các công thức sau:  
- Thể tích = Lưu lượng x Thời gian; Thời gian = Thể tích : Lưu lượng; Lưu  
lượng = Thể tích : Thời gian.  
2. Những yêu cầu của việc dạy giải các bài toán chuyển động đều  
Sau khi học xong phần phương pháp giải các bài toán chuyển động đều,  
yêu cầu đạt được ở mỗi học sinh như sau :  
- Biết thực hiện đúng các bước đi của quy trình giải các bài toán nói  
chung và giải các bài toán chuyển động đều nói riêng, đặc biệt bước tìm  
hiểu đề, phân tích, lập kế hoạch giải.  
- Biết sử dụng một số phương pháp điển hình để giải toán như : phương  
pháp khử, giả thiết tạm, sơ đồ đoạn thẳng, suy luận ...  
- Xét riêng về bài toán chuyển động đều, học sinh cần đạt được những  
yêu cầu có tính đặc trưng sau :  
+ Học sinh trung bình phải thuộc từng dạng toán và nắm được cách giải  
từng dạng toán đó ở dạng tường minh nhất.  
+ Học sinh khá, giỏi đòi hỏi phải nắm thành thục các thao tác, từ đó vận  
dụng một cách linh hoạt các phương pháp giải giải được các bài toán phức  
tạp.  
3. Những chú ý về phương pháp khi dạy giải các bài toán chuyển  
động đều  
Căn cứ vào nội dung bài toán chuyển động đều ở chương trình tiểu học,  
ta thấy việc dạy giải các bài toán này cần chú ý những điểm sau :  
9
“Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5”  
+ Bài toán chuyển động đều dạng toán phức tạp, nội dung đa dạng,  
phong phú. Do đó việc yêu cầu học sinh đọc kĩ đề toán để xác định được  
dạng bài và tìm ra hướng giải đúng việc làm hết sức cần thiết đối với mỗi  
giáo viên.  
+ Khi dạy giải các bài toán chuyển động đều, giáo viên nên hướng dẫn  
học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng.  
+ Khi dạy giải bài toán chuyển động đều cần hướng dẫn học sinh một  
cách tỉ mĩ để các em vận dụng công thức một cách chính xác, linh hoạt.  
+ Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán chuyển động đều, giáo viên  
cần hướng dẫn, động viên học sinh giải bằng nhiều cách khác nhau và lựa  
chọn cách giải hay nhất.  
+ Khi hướng dẫn giải các bài toán chuyển động đều, giáo viên phải chú  
ý cho học sinh biết vận dụng mối tương quan tỉ lệ thuận tương quan tỉ lệ  
nghịch giữa 3 đại lượng ; quãng đường, vận tốc, thời gian để giải được bài  
toán.  
+ Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo, tỉ mĩ bởi đây dạng toán khó và có  
nhiều bất ngờ trong lời giải. Chính vì vậy, đứng trước một bài toán, giáo viên  
cần làm tốt những công việc sau :  
- Xác định những yêu cầu đưa bài toán về dạng cơ bản.  
- Tự giải bài toán bằng nhiều cách (nếu có).  
- Dự kiến những khó khăn, sai lầm của học sinh.  
- Tìm cách tháo gỡ khó khăn, hướng dẫn, gợi ý để học sinh tìm được  
cách giải hay.  
- Đề xuất bài toán mới hoặc khai thác theo nhiều khía cạnh khác nhau.  
- Rèn luyện cho học sinh khá, giỏi năng lực khái quát hóa giải toán.  
IV. Kết quả kiểm tra khảo sát ở thực tiễn  
1. Nội dung và kết quả khảo sát giáo viên  
Qua những lần sinh hoạt tổ chuyên môn, trao đổi về về vấn đề giảng dạy  
toán chuyển động đều, tôi đưa ra một số câu hỏi đối với giáo viên khối 5 và thu  
được kết quả như sau :  
10  

Tải về để xem bản đầy đủ

doc 30 trang minhvan 23/01/2025 460
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_kinh_nghiem_day_cac_bai_toan_ve_chuyen_dong_deu_cho_hoc.doc