SKKN Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5
Toán học có vị trí rất quan trọng trong cuộc sống thực tiễn. Đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thế giới xung quanh, hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực.
ñy ban nh©n d©n quËn Thanh Xu©n
Tr-êng tiÓu häc NguyÔn tr·i
---------------
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
§Ò tµi:
“Kinh nghiÖm d¹y c¸c bµi to¸n vÒ chuyÓn ®éng ®Òu
cho häc sinh líp 5”
LÜnh vùc
Ng-êi viÕt
Chøc danh
: Chuyªn m«n
: §Æng ThÞ N-¬ng
: Gi¸o viªn chñ nhiÖm líp 5C
§¬n vÞ c«ng t¸c : Tr-êng TiÓu häc NguyÔn Tr·i
N¨m häc: 2013 - 2014
PHẦN I
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Toán học có vị trí rất quan trọng trong cuộc sống thực tiễn. Đó cũng là
công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thế
giới xung quanh, hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực.
Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn: Nó phát triển tư
duy, trí tuệ, có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tính suy luận, tính khoa
học toàn diện, chính xác, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, góp phần giáo
dục tính nhẫn nại, ý chí vượt khó khăn.
Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra
cho người thầy là làm thế nào để giờ dạy – học toán có hiệu quả cao, học sinh
phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức
toán học. Theo tôi, các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ
vị trí, mục đích và nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục của bài học môn toán. Nó
không phải là cách thức truyền thụ kiến thức, cách giải toán đơn thuần mà là
phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo
dục phong cách làm việc một cách khoa học, hiệu quả.
Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt
động dạy học trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả”. Để đạt được yêu cầu
đó, giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để vừa nâng cao hiệu
quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học
và trình độ nhận thức của học sinh, để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất
nước nói chung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng.
Xét riêng về loại toán chuyển động đều ở lớp 5, ta thấy đây là loại toán
khó, nội dung phong phú, đa dạng. Vì thế cần phải có phương pháp cụ thể đề
ra để dạy giải các bài toán chuyển động đều nhằm nâng cao chất lượng giảng
dạy của giáo viên, phát triển khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học
sinh tiểu học.
Bên cạnh đó ta còn thấy các bài toán chuyển động đều có rất nhiều kiến
thức được áp dụng vào thực tế cuộc sống. Vì thế bài toán chuyển động đều
cung cấp một lượng vốn sống hết sức cần thiết cho một bộ phận các em học
sinh không có điều kiện học tiếp bậc phổ thông cơ sở mà phải nghỉ học để
bước vào cuộc sống lao động sản xuất.
Từ nhiều lí do nêu trên, tôi chọn đề tài “ Kinh nghiệm dạy các bài toán
về chuyển động đều cho học sinh lớp 5” với mong muốn đưa ra giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng dạy học các bài toán chuyển động đều cho học sinh
lớp 5.
1
II. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm nâng cao chất lượng giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp
5C, trường Tiểu học Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Giúp học sinh hình thành kỹ năng, sử dụng thành thạo và vận dụng một
cách linh hoạt các kiến thức trong giải toán chuyển động đều.
III. Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
-- Đối tượng: HS lớp 5C, trường Tiểu học Nguyễn Trãi, quận Thanh
Xuân, Hà Nội.
- Phạm vi: Dạng toán chuyển động đều trong chương trình Toán lớp 5.
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài.
- Tìm hiểu nội dung, phương pháp để hình thành, khắc sâu và vận dụng
kiến thức.
- Thực nghiệm sư phạm.
2
PHẦN II
NỘI DUNG
I. Một số vấn đề về đặc điểm tư duy của học sinh lớp 5
1. Khả năng tri giác của học sinh lớp 5
Ở độ tuổi đầu cấp Tiểu học, tri giác của các em còn gắn liền với hoạt
đông thực tiễn (rờ, nắn, cầm, bắt), nhưng với học sinh lớp 5, tri giác của
các em không còn gắn với hoạt động thực tiễn, các em đã phân tích được
từng đặc điểm của đối tượng, biết tổng hợp các đặc điểm riêng lẽ theo quy
định. Tuy nhiên, do khả năng chú ý chưa cao nên các em vẫn hay mắc sai
lầm khi tri giác bài toán như : đọc thiếu đề, chép sai hay nhầm lẫn giữa các
bài toán na ná giống nhau.
2. Khả năng chú ý của học sinh lớp 5
Đối với bài toán chuyển động đều, đặc điểm chung là mỗi đề toán
thường rất dài, không đọc kĩ thì rất dễ nhầm. Để phân biệt được ý nghĩa
của từ, cụm từ trong bài cho chính xác, học sinh thường mắc phải lỗi thiếu
chú ý tới từ cảm ứng có trong bài mà trong quá trình giải toán, nhất là bài
toán chuyển động đều thì đó là “chìa khóa” vô cùng quan trọng.
Như vậy, sức chú ý của học sinh chưa thật bền vững và chóng mệt
mỏi. Cho nên trong quá trình làm một bài toán có thể các em tìm hiểu,
phân tích đề và lập kế hoạch giải rất nhanh, nhưng cuối bài lại trình bày
rời rạc, chất lượng bài giải không cao.
3. Đặc điểm trí nhớ của học sinh lớp 5
Học sinh tiểu học thường ghi nhớ một cách máy móc do vốn ngôn
ngữ còn ít. Vì thế các em thường có xu hướng học thuộc lòng từng câu,
từng chữ nhưng không hiểu gì. Ở các em, trí nhớ trực quan hình tượng
phát triển mạnh hơn trí nhớ lôgic. Cho nên các em giải các bài toán điển
hình như toán chuyển động đều một cách máy móc dựa trên trí nhớ về
phép tính cơ bản. Khi gặp bài toán nâng cao học sinh rất dễ mắc sai lầm.
Trí nhớ của các em không đủ để giải quyết các mâu thuẩn trong bài toán.
Tuy nhiên, học sinh lớp 5 đã biết phối hợp sử dụng tất cả các giác
quan để ghi nhớ một cách tổng hợp. Bước đầu có nhiều biện pháp ghi nhớ
tốt hơn các tài liệu hoặc kiến thức đã học.
4. Đặc điểm về tưởng tượng của học sinh tiểu học
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng còn rất bỡ
ngỡ trước một số thao tác tư duy như : so sánh, phân tích, suy luận … Khả
năng khái quát thấp, nếu có thì chỉ có thể dựa vào dấu hiệu bên ngoài.
Đối với bài toán chuyển động đều, nó đòi hỏi ở học sinh sự linh hoạt
và khả năng suy luận, diễn dịch tốt. Loại toán này không giải bằng công
thức đã có sẵn mà các em còn phải biết phân tích, suy luận, diễn giải từ
những dữ kiện của bài toán, để từ đó vận dụng những kiến thức đã có sẵn,
tháo gỡ mâu thuẩn và các tình huống đặt ra trong bài toán.
3
5. Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 5
Ngôn ngữ của học sinh lớp 5 đã phát triển mạnh mẽ về ngữ âm, ngữ
pháp và từ ngữ. Riêng học sinh lớp 5 đã nắm được một số quy tắc ngữ
pháp cơ bản. Tuy nhiên, khi giải toán do bị chi phối bởi các dữ kiện, giả
thiết nên trình bày bài giải thường mắc sai lầm như : sai ngữ pháp, chưa rõ
ý, lủng củng. Có em chưa hiểu từ dẫn đến hiểu sai đề và làm lạc đề.
II. Đặc điểm của các bài toán chuyển động đều
Toán chuyển động đều là dạng toán có liên quan và ứng dụng trong
thực tế, học sinh phải tư duy, phải có óc suy diễn và phải có đôi chút hiểu
biết về thực tế cuộc sống.
Toán chuyển động luôn bao gồm: Vật chuyển động, thời gian, vận
tốc, quãng đường. Là dạng toán dùng câu văn.
Nằm trong xu thế đó, toán chuyển động đều không chỉ giúp học sinh
đào sâu, củng cố kiến thức cơ bản về loại toán này mà nó còn cũng cố
nhiều kiến thức, kỹ năng cơ bản khác như kiến thức đại lượng tỉ lệ thuận
và đại lượng tỉ lệ nghịch, kỹ năng tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, kỹ năng
diễn đạt, tính toán ...
Dạy giải các bài toán chuyển động đều góp phần bồi dưỡng năng
khiếu toán học: Là một trong những thể loại toán điển hình có tính mũi
nhọn, bài toán chuyển động đều đặc biệt quan trọng. Nó góp phần không
nhỏ trong việc phát hiện học sinh năng khiếu qua các kì thi, bởi vì đi sâu
tìm hiểu bản chất của loại toán này ta thấy nó là loại toán phức tạp, kiến
thức không nặng nhưng nhiều bất ngờ ở từng bước giải. Gần đây, loại toán
này được sử dụng khá rộng rãi trong việc ra các đề thi và các tài liệu bồi
dưỡng cho giáo viên và học sinh.
Dạy giải các bài toán chuyển động đều gây hứng thú toán học, giáo
dục tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho học sinh: Ở bậc tiểu học nói
chung và học sinh lớp 5 nói riêng, do đặc điểm nhận thức lứa tuổi nayfcacs
em chỉ hay làm những việc mình thích, những việc nhanh thấy kết quả.
Trong quá trình hệ thống hóa các bài toán chuyển động đều, tôi thấy để đi
được đến bước dùng công thức cơ bản để tìm đáp số của bài toán, học sinh
phải xử lý rất nhiều chi tiết phụ nhưng rất quan trọng của bài toán. Ở mỗi
bài lại có các bước phân tích, tìm lời giải khác nhau. Điều này đòi hỏi mỗi
học sinh phải tích cực, chủ động, sáng tạo. Các tình huống của bài toán
phải xử lý linh hoạt, chính xác để cuối cùng đưa bài toán về dạng đơn
giản, điển hình.
Qua giải bài toán chuyển động đều, không chỉ tạo được sự hứng thú
say mê ở mỗi học sinh, mà còn tạo cho các em một phong cách làm việc
khoa học chính xác, cần mẫn và sáng tạo.
Dạy giải các bài toán chuyển động đều góp phần cung cấp vốn hiểu
biết về cuộc sống cho học sinh tiểu học : Các kiến thức trong toán chuyển
động đểu rất gần gũi với thực tế hàng ngày như làm thế nào để tính được
quãng đường, thời gian, vận tốc ... Chính những bài toán chuyển động đều
sẽ đáp ứng được những yêu cầu đó cho các em.
4
Như vậy, đi sâu tìm hiểu vai trò của việc dạy giải toán chuyển động
đều, ta thấy rằng quá trình dạy giải toán nói chung và dạy giải toán chuyển
động đều nói riêng góp phần không nhỏ vào việc phát triển và hình thành
nhân cách toàn diện cho học sinh.
III. Một số nội dung, phương pháp dạy giải toán chuyển động
đều
1. Bài toán chuyển động đều
Bài toán được khéo léo đưa ra và giới thiệu với học sinh lớp 4 dưới
dạng các bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận và đại lượng tỉ lệ nghịch. Qua đó
học sinh bước đầu nắm được mối quan hệ giữa các đại lượng trong toán
chuyển động đều. Hệ thống bài toán chỉ là những ví dụ đơn giản. Sang lớp
5, toán chuyển động đều mới chính thức thể hiện vị trí của mình, là bộ
phận của chương trình toán tiểu học, tuy nhiên với kiến thức cơ bản và sơ
đẳng nhất. Ba đại lượng : quãng đường, thời gian, vận tốc được sách giáo
khoa chia nhỏ trong chương trình và giới thiệu riêng từng đại lượng.
* Phân loại toán chuyển động đều
Toán chuyển động đều được phân loại dựa vào quan điểm nâng cao,
đi từ đơn giản đến phức tạp, thể hiện như sau :
a) Loại đơn giản (Giải trực tiếp bằng công thức cơ bản, dành cho
các tiết dạy học bài mới.)
Dạng 1: Tính vận tốc của một chuyển động.
- Có quãng đường ,thời gian . Tính vận tốc.
- Cách làm: lấy quãng đường chia cho thời gian.
- Công thức : v = s : t
Lưu ý : Đơn vị vận tốc km/giờ, m/phút, m/giây.
Dạng 2: Tìm quãng đường.
- Có vận tốc , thời gian . tính quãng đường.
- Cách làm : lấy vận tốc nhân với thời gian.
- Công thức: s = v x t
- Lưu ý :Đơn vị quãng đường là : km, m.
Dạng 3: Tìm thời gian.
- Có quãng đường và vận tốc. Tính thời gian.
- Cách làm: lấy quãng đường chia vận tốc.
- Công thức: t = s : v
- Lưu ý : Đơn vị thời gian là: giờ ,phút, giây.
b) Dạng toán chuyển động đều - loại phức tạp: ( giải bằng công
thức suy luận - dành cho các tiết luyện tập, thực hành)
Dạng 1: Hai động tử chuyển động ngược chiều nhau (xa nhau, gần
nhau)
- Quãng đường = Tổng vận tốc x thời gian.
+ Công thức: s = (v1+v2) x t.
- Thời gian = Quãng đường : Tổng vận tốc.
+ Công thức: t = s : (v1+v2)
- Tổng vận tốc = Quãng đường : thời gian.
+ Công thức: (v1+v2)= s : t
5
Dạng 2: Hai động tử chuyển động cùng chiều đuổi kịp nhau.
- Tìm khoảng cách của 2 động tử cùng chiều đuổi kịp nhau ta lấy hiệu
vận tốc nhân với thời gian đuổi kịp, ta xây dựng các công thức:
+ s = (v1-v2) x t.
+ t = s : (v1-v2).
+ (v1-v2) = s : t.
Dạng 3: Vật chuyển động trên dòng sông.
- V xuôi dòng = V riêng + V dòng nước.
- V ngược dòng = V riêng – V dòng nước.
- V dòng nước = (V xuôi dòng + V ngược dòng) : 2.
Dạng 4: Vật chuyển động có chiều dài đáng kể.
- Chuyển động của vật co chiều dài đáng kể là L chạy qua các vật trong
các trường hợp.
+ Vật chuyển động qua cột mốc: Thời gian qua cột mốc bằng chiều dài
vật chia vận tốc vật ( t = L : v)
+ Vật chuyển động qua cầu có chiều dài là d ta có: Thời gian đi qua = (
L + d) : v vật.
Dạng 5: Bài toán chuyển động dạng “Vòi nước chảy vào bể”
- Với loại toán này thường có 3 đại lượng chính là Thể tích của nước ta
coi tương tự như tính với quãng đường S; Thể tích này thường tính theo lít
hoặc m3 hay dm3;
Lưu lượng nước vận dụng công thức tính tương tự như với vận tốc V; Đại
lượng này thường tính theo đơn vị lít/phút hoặc lít/ giây hay lít/giờ. Thời gian
chảy của vòi nước vận dụng tính tương tự như thời gian trong toán chuyển
động đều.
Cách giải loại toán này ta phải áp dụng các công thức sau:
- Thể tích = Lưu lượng x Thời gian; Thời gian = Thể tích : Lưu lượng; Lưu
lượng = Thể tích : Thời gian.
2. Những yêu cầu của việc dạy giải các bài toán chuyển động đều
Sau khi học xong phần phương pháp giải các bài toán chuyển động
đều, yêu cầu đạt được ở mỗi học sinh như sau :
- Biết thực hiện đúng các bước đi của quy trình giải các bài toán nói
chung và giải các bài toán chuyển động đều nói riêng, đặc biệt là bước tìm
hiểu đề, phân tích, lập kế hoạch giải.
- Biết sử dụng một số phương pháp điển hình để giải toán như :
phương pháp khử, giả thiết tạm, sơ đồ đoạn thẳng, suy luận ...
- Xét riêng về bài toán chuyển động đều, học sinh cần đạt được
những yêu cầu có tính đặc trưng sau :
+ Học sinh trung bình phải thuộc từng dạng toán và nắm được cách
giải từng dạng toán đó ở dạng tường minh nhất.
+ Học sinh khá, giỏi đòi hỏi phải nắm thành thục các thao tác, từ đó
vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp giải và giải được các bài
toán phức tạp.
6
3. Những chú ý về phương pháp khi dạy giải các bài toán chuyển
động đều
Căn cứ vào nội dung bài toán chuyển động đều ở chương trình tiểu
học, ta thấy việc dạy giải các bài toán này cần chú ý những điểm sau :
+ Bài toán chuyển động đều là dạng toán phức tạp, nội dung đa dạng,
phong phú. Do đó việc yêu cầu học sinh đọc kĩ đề toán để xác định được
dạng bài và tìm ra hướng giải đúng là việc làm hết sức cần thiết đối với
mỗi giáo viên.
+ Khi dạy giải các bài toán chuyển động đều, giáo viên nên hướng
dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng.
+ Khi dạy giải bài toán chuyển động đều cần hướng dẫn học sinh một
cách tỉ mĩ để các em vận dụng công thức một cách chính xác, linh hoạt.
+ Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán chuyển động đều, giáo
viên cần hướng dẫn, động viên học sinh giải bằng nhiều cách khác nhau và
lựa chọn cách giải hay nhất.
+ Khi hướng dẫn giải các bài toán chuyển động đều, giáo viên phải
chú ý cho học sinh biết vận dụng mối tương quan tỉ lệ thuận và tương quan
tỉ lệ nghịch giữa 3 đại lượng ; quãng đường, vận tốc, thời gian để giải
được bài toán.
+ Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo, tỉ mĩ bởi đây là dạng toán khó và
có nhiều bất ngờ trong lời giải. Chính vì vậy, đứng trước một bài toán,
giáo viên cần làm tốt những công việc sau :
- Xác định những yêu cầu và đưa bài toán về dạng cơ bản.
- Tự giải bài toán bằng nhiều cách (nếu có).
- Dự kiến những khó khăn, sai lầm của học sinh.
- Tìm cách tháo gỡ khó khăn, hướng dẫn, gợi ý để học sinh tìm được
cách giải hay.
- Đề xuất bài toán mới hoặc khai thác theo nhiều khía cạnh khác
nhau.
- Rèn luyện cho học sinh khá, giỏi năng lực khái quát hóa giải toán.
IV. Kết quả kiểm tra khảo sát ở thực tiễn
1. Nội dung và kết quả khảo sát ở giáo viên
Qua những lần sinh hoạt tổ chuyên môn, trao đổi về về vấn đề giảng
dạy toán chuyển động đều, tôi đưa ra một số câu hỏi đối với giáo viên khối 5
và thu được kết quả như sau :
Câu hỏi 1: Cô (thầy) chia các bài toán chuyển động đều về những dạng
nào ? Dựa vào đâu để chia như vậy ?
Trả lời: Chia làm 2 loại, loại đơn giản có 1 động tử chuyển động, loại
nâng cao có 2 động tử hay nhiều động tử.
Câu hỏi 2: Khi giải bài toán chuyển động đều, học sinh thường mắc
những sai lầm gì ?
Trả lời: Không biết cách trình bày lời giải, đôi khi tính toán sai, vận
dụng công thức lẫn lộn, kỹ năng giải bài toán nâng cao yếu.
Câu hỏi 3: Để dạy tốt dạng toán về chuyển động đều, ta cần lưu ý gì về
phương pháp ?
7
Trả lời: Phải tăng cường số lượng, chất lượng các bài tập; các bài tập
đó phải có hệ thống, được phân loại rõ ràng. Phải nghiên cứu và cung cấp cho
học sinh một số phương pháp giải thích hợp.
2. Nội dung và kết quả khảo sát ở học sinh
* Tìm hiểu chất lượng giải các bài toán chuyển động đều ở học sinh.
Tôi đã tiến hành kiểm tra vở của học sinh lớp 5C, trường Tiểu học Nguyễn
Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Việc kiểm tra vở học sinh được tiến hành sau
khi các em học xong phần lý thuyết toán chuyển động đều và một số tiết
luyện tập.
- Số lượng bài: 3 bài ( Bài 3 trang 171; Bài 2 trang 172; Bài 4 trang 174)
- Số lượng học sinh được kiểm tra : 66 em.
Kết quả như sau:
Số học sinh
Số bài không
Sĩ số
Không đạt yêu
cầu
làm hết
Đạt yêu cầu
66
43 = 65,1 %
19 = 28,9 %
4 = 6 %
Như vậy, nhìn chung chất lượng về dạy giải toán chuyển động đều ở
lớp 5C, trường Tiểu học Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội đã đạt yêu
cầu.
Tuy nhiên các bài toán trên hầu hết là những bài toán đơn giản. Một số
bài toán có tính chất nâng cao, học sinh làm không trọn vẹn. Điều đó phản
ánh phần nào việc dạy và học còn chưa tận dụng triệt để những khả năng sẵn
có trong học sinh. Có một điều đáng chú ý là kết quả trên đây tuy đạt yêu cầu
nhưng lại không đồng đều nhau. Có em làm đúng gần hết các bài tập, có em
làm sai và sai rất nhiều. Từ thực trạng trên tôi thấy cần phải tìm ra các nguyên
nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh khi giải loại toán này để có phương
pháp khắc phục.
* Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh trong quá trình
giải bài toán về chuyển động đều.
- Là một bộ phận trong chương trình toán Tiểu học, dạng toán chuyển
động đều là một thể loại gần như mới mẻ và rất phức tạp với học sinh lớp 5.
Các em thực sự làm quen trong thời gian rất ngắn (Học kỳ II lớp 5). Việc rèn
luyện, hình thành, củng cố kĩ năng, kĩ xảo giải toán của học sinh ở loại này
gần như chưa có. Chính vì vậy học sinh không thể tránh khỏi những khó
khăn, sai lầm. Qua thực tế giảng dạy và khảo sát học sinh ở một số lớp, tôi
thấy sai lầm của học sinh khi giải toán chuyển động đều là do những nguyên
nhân sau:
a) Sai lầm do học sinh không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ dữ
kiện và điều kiện đưa ra trong bài toán.
Ví dụ: (Bài 3 trang 140 SGK)
Quãng đường AB dài 25 km. Trên đường đi từ A đến B, một người đi bộ
5Km rồi tiếp tục đi ô tô trong nửa giờ thì đến B. Tính vận tốc của ô tô.
Có 3 học sinh lớp 5B đã giải như sau:
Vận tốc của ôtô là:
8
25 : ½ = 50 (km/h)
Đáp số: 50 km/h
Còn hầu hết học sinh làm đúng bài toán với lời giải như sau:
Quãng đường người đó đi bằng ô tô là:
25 - 5 = 20 (km)
Vận tốc của ô tô là:
20 : ½ = 40 (km/h)
Đáp số: 40km/h
Cả 3 học sinh mắc sai lầm trên đều do các em chưa đọc kĩ đề bài, bỏ sót
một dữ kiện quan trọng của bài toán "Người đó đi bộ 5 km rồi mới đi ô tô".
Trên đây chỉ là một trong những ví dụ học sinh mắc sai lầm loại này.
b) Khi giải bài toán học sinh còn nặng về trí nhớ máy móc, tư duy chưa
linh hoạt.
Ví dụ: Bài 1trang 144 (SGK toán 5):
Quãng đường AB dài 180Km. Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 54Km/giờ,
cùng lúc đó một xe máy di từ B đến Avới vận tốc 36Km/giờ. Hỏi kể từ lúc bắt
đầu đi, sau mấy giờ ô tô gặp xe máy?
Khi gặp bài toán trên học sinh rất lúng túng, không biết vận dụng công
thức gì để tính. Tôi tiến hành kiểm tra trên lớp 5.1 chỉ có một số ít em làm
được bài toán theo cách giải sau:
Cứ sau mỗi giờ ô tô và xe máy đi được số km là:
54 + 36 = 90 (km)
Thời gian để ô tô và xe máy gặp nhau là:
180 : 90 = 2 (giờ)
Đáp số: 2 giờ
Một số học sinh khác do quen cách tính chỉ có một động tử nên không
viết được trọn vẹn lời giải. Một số học sinh lại do nhầm lẫn giữa chuyển động
ngược chiều và chuyển động cùng chiều nên áp dụng sai công thức, dẫn đến
giải sai bài toán.
c) Học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản.
Ví dụ: Một xe máy đi từ A đến B hết 42 phút. Tính quãng đường AB,
biết vận tốc của xe máy là 36 km/giờ.
Tôi tiến hành khảo sát trên lớp 5.1, đây là bài toán cơ bản nhưng có rất
nhiều em giải sai một cách trầm trọng như sau:
Quãng đường AB là:
36 x 42 = 1512 (km)
Đáp số : 1525 km
Với bài toán trên học sinh rất dễ lúng túng khi thấy đơn vị đo vận tốc
của xe máy là km/giờ, mà thời gian xe máy đi hết quãng đường lại đo bằng
đơn vị (phút). Nên trong quá trình giải các em đã không đổi đơn vị đo mà cứ
để nguyên dữ kiện của bài toán như vậy lắp vào công thức s = v x t để tính.
Đây là một trong những sai lầm rất đặc trưng và phổ biến của học sinh khi
giải các bài toán chuyển động đều do không nắm chắc được việc sử dụng đơn
vị đo.
9
d) Vốn ngôn ngữ của học sinh còn nhiều hạn chế.
Ví dụ: Lúc 6 giờ một ôtô đi từ A đến B với vận tốc 50km/h. Lúc 7 giờ
30 phút một xe ôtô du lịch đi từ B đến A với vận tốc 65 km/h. Hỏi hai xe gặp
nhau lúc mấy giờ ? Biết quãng đường AB là 420 km.
Bài toán này hỏi lúc mấy giờ hai xe gặp nhau (tức là tìm thời điểm hai
xe gặp nhau) nên một số học sinh không hiểu và chỉ tìm thời gian để hai xe
gặp nhau.
Đây là những khó khăn sai lầm cơ bản mà học sinh thường gặp khi giải
bài toán chuyển động đều. Trong quá trình giải, học sinh sẽ bộc lộ những sai
lầm nhưng không phải rành mạch từng loại mà có những sai lầm đan xen bao
hàm lẫn nhau. Người giáo viên phải nắm được những khó khăn cơ bản, làm
cơ sở tìm hiểu những khó khăn, sai lầm cụ thể để giúp đỡ học sinh sửa chữa..
Toán chuyển động đều là loại toán học sinh rất hay mắc sai lầm. Có bài
mắc sai lầm mà không ảnh hưởng đến chất lượng bài giải nhưng cũng có bài
mắc sai lầm rất nghiêm trọng. Có bài mắc rất nhiều lỗi dùng từ. Điều này
khẳng định, không như những loại toán khác, toán chuyển động đều đòi hỏi
khả năng ngôn ngữ phong phú, một mặt để hiểu được bài, một mặt để diễn đạt
bài giải của mình một cách tường minh nhất.
V. Phương án dạy giải các bài toán chuyển động đều ở lớp 5
Qua điều tra thực trạng về loại toán chuyển động đều ở trường Tiểu học
Nguyễn Trãi và căn cứ vào nội dung toán chuyển động đều ở Tiểu học, tôi
mạnh dạn áp dụng phương pháp dạy giải các bài toán cụ thể thuộc loại toán
chuyển động đều như sau :
1. Phương pháp chung
Chuyển động đều là dạng toán về các số đo đại lượng. Nó liên quan đến
3 đại lượng là quãng đường (độ dài), vận tốc và thời gian.
Bài toán đặt ra là: Cho biết một số trong các yếu tố hay mối liên hệ nào
đó trong chuyển động đều. Tìm các yếu tố còn lại. Vì vậy, mục đích của việc
dạy giải toán chuyển động đều là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối quan hệ
giữa đại lượng đã cho và đại lượng phải tìm, mô tả quan hệ đó bằng cấu trúc
phép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải bài toán.
Để thực hiện mục đích trên, giáo viên cần thực hiện các yêu cầu sau:
- Tự giải bài toán bằng nhiều cách (nếu có).
- Dự kiến những khó khăn, sai lầm của học sinh.
- Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm, thuật ngữ và
thực hiện các bước giải bài toán chuyển động đều.
- Rèn luyện cho học sinh khá, giỏi năng lực khái quát hoá giải toán.
* Khâu giải toán: Là khâu quan trọng trong quá trình chuẩn bị dạy giải
bài toán của người giáo viên. Chỉ thông qua giải toán, giáo viên mới có thể dự
kiến được những khó khăn sai lầm mà học sinh thường mắc phải, và khi giải
bài toán bằng nhiều cách giáo viên sẽ bao quát được tất cả hướng giải của học
sinh. Đồng thời hướng dẫn các em giải theo nhiều cách để kích thích lòng say
mê học toán ở trẻ.
* Dự kiến khó khăn sai lầm của học sinh:
10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 11 trang mẫu của tài liệu "SKKN Kinh nghiệm dạy các bài toán về chuyển động đều cho học sinh lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_kinh_nghiem_day_cac_bai_toan_ve_chuyen_dong_deu_cho_hoc.doc